This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Saturday, June 11, 2016

Ông trùm sầu riêng lãi bạc tỷ mỗi năm

Từng khởi nghiệp với 400.000 đồng, gần chục năm trồng sầu riêng "bị điếc" nhưng nhờ kiên trì, quyết tâm theo nghề, nay ông Cường hiện thu lãi ròng hơn một tỷ đồng mỗi năm.
a-tb-ong-trum-sau-rieng-lai-ba-1481-3333
Ông Cường bên gốc sầu riêng trĩu quả tại Đồng Nai. Ảnh: Nông nghiệp Việt Nam

Vườn sầu riêng sum xuê trái của ông Nguyễn Thanh Cường nức tiếng ấp 9, xã Nhân Nghĩa, huyện Cẩm Mỹ (Đồng Nai). Ông là người tiên phong đưa giống sầu riêng Thái về trồng. Từ thành công của ông Cường, nhiều hộ cũng hưởng ứng trồng theo, biến nơi đây thành “vương quốc sầu riêng” nổi tiếng không kém những vùng miệt vườn ở miền Tây.
Ông Cường chia sẻ, sau giải phóng, ông cùng gia đình từ Bình Dương di cư về Đồng Nai khai hoang lập nghiệp. Khi cưới vợ được bố mẹ cho 7 sào đất để trồng trọt mưu sinh. Lúc đầu chủ yếu trồng vườn tạp với đủ loại cây như cà phê, sầu riêng, tiêu…theo phương thức lấy ngắn nuôi dài chứ chưa nghĩ đến chuyện làm giàu. Có nhiều gốc sầu riêng đã trồng 10 năm chưa ra hoa đậu trái vì bị điếc nhưng vì yêu cây quý nghề, ông vẫn không nản lòng, quyết tâm theo đuổi.
Đến năm 1996, doanh nghiệp tại Đồng Nai nhập về giống sầu riêng Thái cho hiệu quả kinh tế cao. "Tôi quyết tâm đầu tư trồng giống này trên toàn bộ diện tích vườn”, ông Cường kể.
Ưu điểm của việc ghép cây sầu riêng là giảm được chi phí đầu tư, rút ngắn thời gian ra trái. Thông thường trồng sầu riêng phải từ 5-6 năm mới có quả, nhưng cây ghép chỉ trong vòng 3 năm đã có thể thu hoạch. Tuy nhiên, suốt 6 năm đầu, vườn sầu riêng của ông hầu như mất trắng vì cây đậu trái rất ít.Thời gian đầu, dù quyết tâm cao nhưng bị kẹt vốn, ông cứ loay hoay tìm vay khắp nơi không được. Cuối cùng người nông dân đành bàn với vợ đem bán chiếc nhẫn kỷ niệm ngày cưới được 400.000 đồng để mua hết cây giống sầu riêng về trồng. Từ đó, ông mày mò học cách ghép để chiết nhánh cây sầu riêng Thái ghép vào gốc sầu riêng hạt đã có sẵn. Ông tìm đến các nông trường ghép cao su, cà phê để quan sát và học cách ghép cành rồi về tự mình áp dụng kỹ thuật ghép sầu riêng. Do nắm bắt kỹ thuật nhanh, ông ghép cây nào cũng sống và sinh trưởng tốt.
Mỗi lần mưa xuống, ra thăm vườn thấy hoa, trái rụng đầy gốc khiến ông đau xót, nhưng lại tự an ủi mình và quyết tâm tìm cách khắc phục. Thấy ông đem cây sầu riêng Thái về trồng thất bại, nhiều người chê ông làm những việc không giống ai và chẳng ai tin ông sẽ thành công.
Mấy năm đầu trồng ghép cây sầu riêng Thái gần như bị mất trắng, mỗi mùa vườn chỉ đậu vài cây ra hoa nhưng bù lại cây cho trái rất to. Khi những trái sầu riêng này chín, vợ chồng ông đem đi bán và bất ngờ vì khách rất ưa chuộng, bán giá bao nhiêu cũng mua. "Thật không ngờ, khách đến xem sầu riêng xong trả 16.500 đồng/kg, giá cao nhất thời đó. Khi bán xong tôi đếm được 480.000 đồng. Mừng quá tôi mua ngay một chỉ vàng đem về trả nợ cho bà xã. Đến nay cây sầu riêng cho trái to ấy vẫn còn trong vườn, được ưu ái đặt tên là cây một chỉ vàng", ông nói.
Tìm thấy nguồn động viên to lớn từ cây sầu riêng Thái này, ông Cường kiên trì  tự mày mò, tìm hiểu kiến thức trên sách, báo để trao dồi kỹ thuật. Ông còn gặp những người có nhiều kinh nghiệm trồng sầu riêng để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm.
Nghề dạy nghề, tích lũy nhiều năm kinh nghiệm nên bây giờ chỉ cần nhìn lá sầu riêng là ông có thể biết mùa nào thắng, mùa nào thua. Do vậy, trừ khi gặp thiên tai đành phải chấp nhận, còn đến nay năm nào vườn nhà ông cũng được mùa thắng lớn. Khi đã có lời, gia đình ông tiếp tục đầu tư mở rộng vườn sầu riêng.
Đến nay, gia đình ông đã có hơn 4 ha sầu riêng, mỗi năm cho thu hoạch khoảng 70 tấn. Sau khi trừ chi phí, ông còn lời khoảng 1,2 tỷ đồng và cái tên Cường sầu riêng, ông trùm sầu riêng bắt đầu vang xa, được nhiều người biết đến. Thấy mô hình làm ăn của gia đình ông đạt hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ xung quanh cũng chuyển sang chuyên canh sầu riêng và được người nông dân này nhiệt tình chia sẻ kinh nghiệm.
Bà Phạm Thị Tuyết, cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Nhơn Nghĩa: "Sầu riêng là cây trồng chủ lực của xã Nhơn Nghĩa, giúp bà con làm giàu. Hiện toàn xã có gần 200 ha sầu riêng, chiếm một phần tư diện tích đất nông nghiệp. Xã đã hỗ trợ cho 18 hộ lắp đặt hệ thống tưới nước tự động để trồng cây sầu riêng cho năng suất cao.
Theo Nông nghiệp Việt Nam

Tạo điều kiện để nông dân tiêu thụ vải thuận lợi

Sáng 10-6, đồng chí Nguyễn Anh Cương, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh kiểm tra tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại huyện Thanh Hà.

Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Anh Cương kiểm tra tình hình sản xuất vải tại xã Trường Thành (Thanh Hà)

Làm việc với lãnh đạo Công ty TNHH Phúc Cường (xã Trường Thành), đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đánh giá cao hoạt động thu mua vải, cung cấp thùng xốp phục vụ đóng gói, bảo quản vải và hỗ trợ vận chuyển cho các doanh nghiệp khác của công ty. Đề nghị công ty tăng khối lượng thu mua và tiếp tục tìm kiếm thêm thị trường tiêu thụ. Hiện tại, Công ty TNHH Phúc Cường thu mua hơn 30 tấn vải sớm/ngày, xuất khẩu sang các thị trường Trung Quốc, Lào, Campuchia và tiêu thụ tại các tỉnh, thành phố lớn trong nước. Công ty còn cung cấp hơn 1 triệu thùng xốp/vụ cho các doanh nghiệp khác đóng gói vải. Đồng chí Nguyễn Anh Cương yêu cầu huyện Thanh Hà tạo điều kiện cho công ty có thể thuê thêm đất để phát triển sản xuất, chỉ đạo UBND xã Trường Thành phối hợp cùng công ty làm lại đường bê tông giúp các doanh nghiệp thu mua, vận chuyển vải thuận lợi.

Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Thanh Hà phải có phương án cụ thể nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi để tiêu thụ vải, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng ách tắc giao thông ảnh hưởng tới quá trình vận chuyển. Đối với trà vải thiều, nhất là vùng xuất khẩu, các cơ quan chuyên môn của huyện cần tích cực hướng dẫn người dân chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để quả vải đạt chất lượng tốt nhất.

Theo UBND huyện Thanh Hà, năm nay trà vải sớm tiêu thụ thuận lợi và được giá. Hiện tại, người dân đang thu hoạch vải u hồng, vải u thâm với giá từ 22.000 - 24.000 đồng/kg, cao hơn từ 5.000 - 8.000 đồng/kg; vải tàu lai giá 28.000 đồng/kg, cao hơn 7.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm ngoái. Các tiểu thương nhận định giá vải tàu lai sẽ tiếp tục tăng, đạt từ 30.000 - 32.000 đồng/kg trong những ngày tới. 

PV Báo Hải Dương

Saturday, November 14, 2015

Bệnh sữa ở tôm hùm

Bệnh do vi khuẩn Rickettsia - like là tác nhân chính; ngoài ra còn do vi khuẩn V. fluvialis, V.alginolyticus và một số ký sinh trùng.


Khi tôm bị bệnh, các đốt ở phần bụng tôm chuyển từ màu trắng trong sang màu trắng đục, dịch tiết (gồm cả máu) của tôm có màu đục như sữa, mô cơ chuyển sang màu trắng đục hay vàng đục và nhão. Gan tụy chuyển màu nhợt nhạt, có trường hợp hoại tử. Bệnh xảy ra ở ở tôm từ 50 - 500 g/con, gây chết từ rải rác đến hàng loạt.

Có thể tiến hành trị bệnh sữa cho tôm hùm như sau:

Phác đồ 1: Khi phát hiện tôm bị bệnh, tiến hành tiêm thuốc cho toàn bộ tôm trong lồng nuôi bằng Oxytetracyline 20% chứa LA và nước cất để pha. Với tôm hùm < 500 g/con, pha thuốc chứa 1 ml Oxytetracyline 20% + 9 ml nước muối sinh lý (hoặc nước cất), lắc đều, liều tiêm là 0,1 ml thuốc đã pha/100 g tôm. Với tôm > 500 g/con thì pha thuốc chứa 2 ml Oxytetracyline 20% + 8 ml nước muối sinh lý (hoặc nước cất), liều tiêm là 0,05 ml thuốc đã pha/100 g tôm. Nên dùng xilanh có dung tích 1 ml để tiêm tôm. Sau khi tiêm thuốc tiến hành ghi chép và theo dõi 2 lần/ngày khả năng bắt mồi cùng với dấu hiệu lâm sàng của bệnh sữa trong đàn tôm.

Sau khi điều trị, tiến hành kiểm tra lại toàn bộ tôm được điều trị. Kiểm tra dấu hiệu lâm sàng xem tôm còn dấu hiệu bệnh hay không. Nếu có điều kiện, người nuôi nên tiến hành thu, gửi mẫu xét nghiệm bệnh sữa tại các phòng thử nghiệm. Trường hợp sau khi thực hiện đúng phác đồ điều trị bệnh không khỏi, hoặc có những biến đổi bất thường, cơ sở nên báo cơ quan quản lý thú y thủy sản tại địa phương để hướng dẫn giải quyết.


Phác đồ 2: Treo túi khử trùng Chlorine dioxide (thành phần chính là Natri Chlorite), 2 túi/lồng, mỗi túi 10 viên (10 g thuốc), 1 lần/ngày. Dùng doxycyline 10% trộn thứ ăn với 7 g/kg thức ăn (chọn thức ăn có kích cỡ phù hợp với kích cỡ miệng tôm, sau khi trộn thuốc phải có thời gian để thuốc ngấm),  áp dụng 1 lần/ngày và trong 7 ngày liên tục. Lượng thức ăn trộn thuốc nên sử dụng lượng ít hơn bình thường để tôm sử dụng hết thức ăn, sau đó điều chỉnh tăng dần cho phù hợp. Bổ sung premix (vitamin, axit amin, khoáng chất) trộn thức ăn trong toàn bộ quá trình điều trị. Thời gian điều trị 10 ngày, sau đó dừng thuốc hoàn toàn; nếu không khỏi thì chuyển sang tiêm.

Tiến hành trộn thức ăn với thuốc bổ trợ đã tính toán, để khoảng 30 phút; sau đó cho chất bọc thuốc và trộn lại lần nữa trước khi cho ăn. Cho thức ăn vào túi hoặc vợt thả xuống đáy lồng rồi rải thức ăn ra đáy lồng cho tôm ăn lúc chiều tối. Trong quá trình điều trị cần bổ sung một số men, vitamin vào thức ăn. Liều lượng thuốc bổ trợ theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thú y hoặc nhà sản xuất.

Châu An (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Thursday, November 12, 2015

Hướng dẫn cách chăm sóc, xử lý cúc ra hoa đúng dịp tết

Hoa cúc là loại cây khó trồng do dễ bị nhiễm sâu bệnh, vì thế để cây cho chất lượng hoa tốt, hoa to, nở đúng dịp, người nông dân phải nắm vững kỹ thuật trồng, cách chọn giống, cách chăm sóc. Sau đây là một số kỹ thuật trồng và chăm sóc cúc chậu.

Chăm sóc hoa cúc - Ảnh: P.Nam

Giống cúc: Giống cúc đại đóa. Thời vụ trồng từ ngày 1 đến 15/8 âm lịch.

Tiêu chuẩn cây giống đem ra trồng: Cây cao 5-7cm, có 2-3 cặp lá, chiều dài rễ 1-3cm, sạch bệnh. Cây phải khỏe mạnh, không dị hình, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh hại.

Chuẩn bị giá thể: Tro trấu, cát, xơ dừa tỉ lệ 1:3:1

Xơ dừa ủ trước khi trồng vài tháng, khi ủ trộn với vôi tỉ lệ 1:5, hàng ngày tưới nước, khoảng 10-15 ngày đảo đều, ủ cho đến khi hoai mục.

Trước khi trồng 1-2 ngày ngâm Vibasu 10H tưới vào giá thể để trừ kiến, dế.

Khi trồng ra chậu cần chú ý: Bà con nên trồng hoa cúc chậu trong nhà có mái che; tùy vào điều kiện kinh tế của từng hộ dân có thể dùng nhà lưới hiện đại hay nhà lưới đơn giản hoặc nhà che tạm. Khi trồng xong thì ta nên tưới nước bằng vòi hoa sen loại “doa 9” hoặc “doa 10”. Sau khi trồng ra chậu thì nên tưới sương ngày 3 lần vừa đủ ẩm, mục đích cho cây bén rễ, không bị héo. Sau khi trồng cúc ra chậu nên chong đèn ngay, thời gian chong đèn từ lúc 19 - 22 giờ, dùng bóng chữ U (18-20W), chiều cao từ chậu đến vị trí đặt bóng là 1,5m, khoảng cách 2,5m ta đặt một bóng đèn. Bón phân NPK (20-20-15) + DAP với liều lượng 1kg/100 chậu, cứ cách 5-7 ngày tưới một lần.

Khi cây bén rễ ta phun phân bón lá 33:33:11+TE, Atonik, định kỳ 7 ngày/ lần. Sau trồng khoảng 15-20 ngày, tiến hành bấm ngọn để 2 nhánh/cây để sau này cho số lượng bông nhiều hơn, nếu để 1 nhánh/cây số lượng bông ít, về hình thức chậu bông không được đẹp, giá bán không cao, người tiêu dùng ít lựa chọn. Trước khi bấm ngọn, ta nên bón phân NPK (20-20-15) + DAP với liều lượng 2kg/100 chậu. Nên tiến hành bấm ngọn vào buổi sáng.

Khi cây đạt chiều cao 20 - 25cm, ta tiến hành cắm tăm và giãn khoảng cách các chậu 1,2-1,5m. Chúng ta vẫn chăm sóc, tưới nước đều đặn nhưng chú ý tăng cường phân bón rễ như: Super Humic, Bi­mix loại ống (36ml/ống) pha 3 bình 8 lít vì giai đoạn này chúng ta cắm tăm làm tổn thương bộ rễ.

Giai đoạn này bón phân NPK (20-20-15) + DAP với liều lượng 3kg/100 chậu, cứ 5-7 ngày ta tưới một lần. Phun thuốc phòng trừ bệnh đốm lá, gỉ sắt như: Anvil, Ridomil…Phun thuốc phòng trừ bọ trĩ gây hại: Confido…

Đầu tháng 11 âm lịch tiến hành ngắt điện cho cây cúc, nên ngắt điện từ từ không nên ngắt điện một lần vì nó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây hoa cúc.

Chú ý: Hạn chế tưới đạm, tăng hàm lượng Kali, bón phân NPK (5-5-20) 2kg/100chậu, nếu cây hoa cúc xấu thì ta tăng lượng phân lên. Cứ 7-10 ngày tưới 1 lần.

Tiến hành ngắt tỉa nụ: Để lại 1 nụ chính/cây. Tỉa nụ dựa theo thời tiết: Trời âm u, thiếu ánh sáng tập trung lặt nụ sớm; thời tiết ấm áp ta để 3 nụ/cây.

Từ 10 - 15/12 âm lịch nếu nụ cỡ 1cm thì ta nên lặt hết các nụ phụ để lại 1 nụ chính, mục đích tập trung chất dinh dưỡng nuôi nụ chính để trổ bông trúng dịp tết.

Khoảng ngày 20/12 âm lịch nếu nụ còn nhỏ ta phun phân bón lá KNO3 (50-100g/bình 16lít) để kích thích trổ bông, 3-5 ngày phun một lần, nên phun vào lúc chiều mát. Nếu bông nở sớm ta mua bọc nhựa bọc lại để hạn chế sự nở của bông hoặc không thì ta làm giàn bằng lưới đen để che ánh sáng hạn chế bông nở sớm.

Bà con nên lưu ý: Nước tưới ngày 2 lần: Buổi sáng từ 6 - 7 giờ, nếu hôm nào có sương muối thì tưới sớm hơn. Buổi chiều tưới khoảng 15 giờ để cho bộ lá vào ban đêm ráo nước, hạn chế nấm bệnh xâm nhập gây hại.

KS. Lê Kim Thoa (Trạm KN-KN TP Tuy Hòa - Phú Yên)

Sunday, November 8, 2015

Nguyên nhân và cách chữa trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái

Lợn nhà tôi đã đẻ được 4-5 ngày thì ở tử cung bị chảy ra máu, mệt mỏi, bỏ ăn. Hỏi các chuyên gia cho tôi biết nguyên nhân ra sao và cách khắc phục? - Nguyễn Thị Tuyết


Căn cứ vào triệu chứng nêu và giai đoạn của lợn thì lợn nhà chị khả năng bị mắc bệnh viêm tử cung. Bệnh này là một bệnh sinh sản thường gặp trong chăn nuôi lợn nái, thường xảy ra ở giai đoạn sau khi sinh, đặc biệt xảy ra nhiều trên là trên giống lợn nái ngoại sau đó đến lợn nái lai, thấp nhất ở các giống lợn nội. Lợn bị bệnh còn có những biểu hiện như mệt mỏi, sốt, bỏ ăn, mất sữa, có thể kế phát sang viêm vú.

Nguyên nhân mắc bệnh

Bệnh xảy ra do nhiều nguyên nhân như:

- Can thiệp không đúng kỹ thuật khi lợn đẻ khó; lợn bị nhiễm trùng từ chuồng trại do chuồng trại kém vệ sinh.

- Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin A,D,E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn.

- Cơ quan sinh dục ngoài bẩn.

- Lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp.

- Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát, hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục.

Phòng bệnh:

Để phòng bệnh cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho lợn nái khi mang thai và sau sinh, tiến hành can thiệp hỗ trợ lợn đẻ đúng kỹ thuật, tiến hành thụt rửa tử cung cho lợn bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch thụt rửa tử cung.

Sau khi sinh 2h, có thể dùng một trong các loại kháng sinh sau để tiêm cho lợn để phòng viêm tử cung do nhiễm khuẩn như: MARPHAMOX-GEN LA; MARPHAMOX-LA; CEPTYL-NEW; AMPICOLIS T. Liều lượng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Cho lợn uống điện giải và Glucose giúp tăng cường giải độc, giảm xuất huyết, nâng cao sức đề kháng và miễn dịch.

Thường xuyên bổ sung ADE-MIX vào khẩu phần thức ăn, đặc biệt là trong giai đoạn mang thai và sau khi sinh, giúp tăng tái tạo tế bào niêm mạc, giảm lão hóa, giảm xây xước và viêm nhiễm, phòng chống hiện tượng bại liệt sau khi sinh, lợn con còi xương.

Điều trị:

Theo triệu chứng chị nêu thì lợn nhà chị bị viêm tử cung sâu và dịch chảy ra có máu nên không được thụt rửa, tránh trường hợp viêm ngược và tắc ống dẫn trứng.

Trong trường hợp này có thể dùng:

- PG-F2α hoặc oxytoxin tiêm, giúp đẩy dịch viêm ra ngoài

- Tiêm các loại thuốc kháng viêm hạ sốt.

- Sử dụng một trong các loại kháng sinh sau để chống nhiễm khuẩn: CEFANEW-LA; MARPHAMOX-LA; AMPICOLIS T. Liều lượng và đường đưa thuốc theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Theo TTKNQG

Khắc phục hiện tượng lươn bị sưng phù đầu, chết rải rác

Lươn nuôi trong bể không bùn được 4 tháng, bể rộng 3 m thả gần 100 kg, nhưng mắt lươn bị mù, trắng đục, đầu sưng phù, chết rải rác. Từ lúc thả đến giờ lươn không ăn gì và không lớn? Hỏi nguyên nhân và cách khắc phục? - Lê Hồng Bích Phượng, Tân Mỹ - Đức Hòa - Long An  

Ảnh minh họa

Bể rộng 3 m mà chị thả 100 kg lươn giống như vậy là mật độ quá cao. Khi cho thức ăn, lươn không ăn sẽ càng gây ô nhiễm nguồn nước nên các loại bệnh và vi khuẩn trong bể nuôi phát triển làm cho mắt lươn bị mù, trắng đục, đầu sưng và chết rải rác.

Cách khắc phục: Chị nên tách riêng những con khỏe mạnh sang bể nuôi khác, loại bỏ những con yếu và bị bệnh. Vệ sinh nguồn nước sạch sẽ, sau khi cho ăn phải loại bỏ thức ăn dư thừa và thay từ 40 - 50% lượng nước trong bể; bổ sung thêm các loại Vitamin C, B1 vào thức ăn để tăng sức đề kháng cho lươn.

Theo TTKNQG

Phòng, trị bệnh thối nứt thân trên cà phê

Tôi có trồng 2 ha cà phê được 13 năm tuổi, bị thối vỏ ở thân, héo cây rồi chết, có 40 cây bị bệnh, đã dùng sunfat đồng nhưng chưa khỏi. Xin hỏi nguyên nhân và biện pháp khắc phục? - Hoàng Văn Dân -Krông Pa - Gia Lai

Ảnh minh họa

Như triệu chứng mà bác mô tả: Cây cà phê bị thối ở thân cây, rồi cây bị héo và chết… Đây là triệu chứng cơ bản của bệnh thối nứt thân trên cà phê. Bệnh này thường xuất hiện cả trên vườn cà phê kiến thiết cơ bản lẫn kinh doanh, trên đoạn thân đã hóa gỗ. Bệnh làm nứt và thối đen lớp vỏ ngoài của thân cây, nếu bị nặng thì lớp gỗ phía trong bị khô dẫn đến hiện tượng tắc mạch. Cây không hút được nước nên lá héo và khô từ đầu ngọn xuống.

Để phòng trừ có hiệu quả, có thể áp dụng tổng hợp các biện pháp sau:

 - Thường xuyên kiểm tra vườn cây để phát hiện bệnh sớm khi thân cây vừa bị nứt hoặc có vết đen nhỏ để kịp thời phòng trị.

- Nếu cây đã bị khô ngọn nhưng thân dưới vẫn còn khỏe, cần phải cưa ngang thân và đốt bỏ phần cây bị bệnh. Sau đó, dùng một số loại thuốc để quét lên trên mặt thân bị cưa và nuôi chồi mới. 

Theo TTKNQG

Nuôi bò 'khổng lồ': Kỹ thuật nuôi

Có thể chia ra như sau; kỹ thuật nuôi dưỡng bê hướng thịt, kỹ thuật nuôi dưỡng bò sinh sản, kỹ thuật nuôi bò cái đang nuôi con và kỹ thuật làm chuồng nuôi


Nuôi dưỡng bê hướng thịt 

Nuôi bê bú sữa: Cho bê bú sữa đầu của bò mẹ càng sớm càng tốt. Trong thời gian bê bú sữa cần nuôi dưỡng bò mẹ thật tốt. Thường bò lai Sind từ tháng 4 sau đẻ lượng sữa bắt đầu giảm. Vì thế phải bổ sung 5 - 10 kg cỏ tươi; 0,2 kg cám hỗn hợp mỗi ngày. 

Nuôi bê sau cai sữa đến trước lúc vỗ béo: Đây là giai đoạn chuẩn bị trước lúc đưa bê vào vỗ béo. Đối với các cơ sở tự túc được thức ăn thì trong mùa đông phải tận dụng được tối đa thức ăn ủ xanh và cỏ khô. Trong mùa hè cho ăn thức ăn xanh (tại chuồng hay chăn thả). Bên cạnh các thức ăn tự túc có thể sử dụng các phụ phẩm nông, công nghiệp cho bê ăn. 

Chăn nuôi bê thịt từ 12 - 15 tháng tuổi: Bê được nuôi chăn thả hoặc vận động tự do. Nuôi riêng bê đực và bê cái. Bê đực có thể nuôi nhốt hoặc chăn thả khu riêng. Nước uống tự do. 

Dùng thức ăn thô xanh là chủ yếu. Chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn tại chuồng. 

Trong 1 kg thức ăn tinh hỗn hợp có 14 - 15% đạm thô, 2.500 - 2.600 Kcal năng lượng trao đổi; 1,5% khoáng; 40 - 50 gr muối ăn. 

Khẩu phần trong 1 ngày là: Cám hỗn hợp 1,5 - 2 kg; cỏ tươi 35 -38 kg. Dùng cỏ xanh, nếu thiếu thay thế cỏ bằng rơm khô, ủ chua, bã sắn, bã bia. 

Vỗ béo trước lúc giết thịt: Vỗ béo là nuôi dưỡng đặc biệt với mức ăn dồi dào, khẩu phần có giá trị hoàn thiện nhằm mục đích thu được ở con vật một lượng thịt tối đa với những chất lượng mong muốn. Thời gian vỗ béo tuỳ thuộc vào độ béo của bò trước khi vỗ béo và yêu cầu của thị trường về chất lượng thịt... Thông thường thời gian vỗ béo là 60 hoặc 90 ngày

Sử dụng thức ăn thô xanh bổ sung thức ăn tinh để vỗ béo. Tỷ lệ thức ăn tinh và thô trong khẩu phần cho hiệu quả cao nhất là 4:1

Nuôi dưỡng bò sinh sản 

Trước khi đẻ 30 ngày và sau khi đẻ 10 ngày bò được nuôi riêng. Chuồng nuôi bò đẻ phẳng, không trơn hoặc có lót chuồng bằng chất độn (rơm, cỏ khô...), mỗi tuần tẩy uế 1 lần bằng vôi bột. 

Bò đợi đẻ và đẻ nuôi ở nơi thoáng mát, yên tĩnh. Hàng ngày vận động 2 - 3 giờ vào lúc nắng ấm, có người theo dõi. Nếu chăn thả phải có khu riêng, phẳng và gần chuồng nuôi, có khẩu phần ăn riêng. 

Trước khi đẻ luôn chú ý tới bầu vú đề phòng viêm nhiễm. 

Đỡ đẻ: Khi phát hiện bò trở dạ sắp đẻ cần chuẩn bị dụng cụ: Kéo đã sát trùng, cồn sát trùng, khăn vải khô, dung dịch thuốc tím, xà phòng, rơm hoặc cỏ khô, muối, cám hỗn hợp. 

Trước khi bò đẻ dùng nước, thuốc tím rửa sạch phần thân sau bò (mông, âm hộ, bầu vú, đuôi). Sát trùng tay người đỡ đẻ bằng cồn 75 độ. Chủ yếu để bò đẻ tự nhiên. 

Bê đẻ ra: Dùng tay móc các dịch bẩn trong miệng, mũi bê. Dùng 2 ngón tay vuốt dây rốn từ trong ra ngoài, dùng kéo đã sát trùng cắt dây rốn cách thành bụng 8 - 10cm. Sát trùng vết cắt bằng cồn 75 độ hoặc Lugon, bóc móng cho bê. Dùng rơm hoặc vải khô lau toàn thân bê, cân khối lượng, đưa vào cũi có lót rơm hoặc cỏ khô. Để bê vào vị trí cho bò mẹ liếm. 

Bò đẻ xong thì dùng nước và thuốc tím rửa vào phần thân sau bò, cho bò mẹ uống nước cháo ấm (mùa đông) hoặc nước hòa 1 kg cám với 60 - 80 gr muối. 

Vệ sinh nơi bò đẻ, đưa bò mẹ vào nơi nuôi khô, phẳng. Theo dõi nhau, không để cho bò mẹ ăn nhau. Nếu sau khi đẻ 12 giờ nhau không ra, bò bị sát nhau cần báo để bác sĩ thú y can thiệp. 

Bò sau khi vỡ ối 1 giờ mà chưa đẻ được, báo cán bộ thú y can thiệp. 

Thức ăn cho bò đẻ: Trước khi bò đẻ 15 ngày không cho ăn bã bia, ủ chua và thức ăn kích thích xuống sữa sớm. 

Hỗn hợp thức ăn tinh cho bò đẻ có dinh dưỡng: Đạm thô 14 - 16% và năng lượng trao đổi 2.600 - 2.700 Kcal

Khẩu phần ăn trong 1 ngày là cám hỗn hợp 2 kg, muối ăn 60 gr, cây xanh 30 - 35 kg

Sau khi đẻ cho ăn 1 kg cám hỗn hợp/ngày. Theo dõi bầu vú bò, nếu bò bị cương vú thì giảm thức ăn tinh, nếu bò bình thường thì cho ăn theo tiêu chuẩn. 

Sau khi đẻ 1 giờ cho bê bú sữa đầu. 

Có thể dùng bã bia, bã sắn, cỏ khô thay thế cây xanh. 

Đối với các loại thức ăn lỏng như rỉ đường trộn với các loại thức ăn khác, không trộn rỉ đường với cây xanh non. Cho bò uống nước tự do. 

Nuôi bò cái đang nuôi con: 

Giai đoạn đầu sau khi đẻ (từ ngày bò đẻ đến tuần thứ 8) cần cung cấp thức ăn tinh tốt cho bò ở giai đoạn này để bò có sữa nhiều nhất. Nuôi dưỡng kém trong giai đoạn này sẽ làm giảm lượng sữa nuôi bê và bò biểu hiện động dục lại không rõ ràng, khó phát hiện. Hỗn hợp thức ăn tinh cho bò có dinh dưỡng: Đạm thô 14 - 16% và năng lượng trao đổi 2.600 - 2.700 Kcal

Khẩu phần ăn trong 1 ngày là cám hỗn hợp 2 - 3 kg, muối ăn 60 gr; cây xanh 30 - 35 kg

Giai đoạn giữa (từ tuần thứ 9 đến tuần thứ 16 sau khi đẻ), giảm thức ăn tinh, tăng thức ăn thô và giảm lượng đạm. Hàm lượng đạm khoảng 13 - 15% trong khẩu phần. 

Khẩu phần ăn trong 1 ngày là cám hỗn hợp 2 kg, muối ăn 60 gr, cây xanh 30 - 35 kg

Giai đoạn cuối (từ tuần 17 sau khi đẻ), bò được phục hồi cơ thể và dự trữ dinh dưỡng cho lần đẻ sau. Thức ăn thô chiếm phần chính, giảm lượng thức ăn tinh, giảm hàm lượng đạm trong khẩu phần. Hàm lượng đạm khoảng 13% là phù hợp. Khẩu phần ăn trong 1 ngày là cám hỗn hợp 1 - 1,5 kg, muối ăn 60 gr, cây xanh 30 - 35 kg

Chú ý: 

- Bò đẻ lứa 1, 2 còn tiếp tục tăng trọng lượng, vì vậy phải cho ăn tăng 0,5 kg cám/ngày. 

- Trong vòng 6 - 7 ngày sau khi đẻ cần thụt rửa đường sinh dục bằng dung dịch Lugol hoặc các dung dịch sát trùng nhẹ khác.

- Sau khi bò đẻ một tuần không nên cho ăn ngay các loại thức ăn củ quả và các loại thức ăn nhiều nước khác. Tốt nhất là cho ăn cỏ phơi tái, cỏ khô loại tốt. 

Chuồng nuôi bò thịt 

- Hướng: Nên chọn hướng nam hoặc đông nam, chuồng phải đảm bảo thông thoáng, mát mẻ, tránh được gió lùa và nắng chiếu xiên vào buổi chiều. Cần bố trí hệ thống cây xanh, cây bóng mát xung quanh chuồng nuôi . 

- Vị trí xây dựng chuồng trại: Chuồng bò phải cách xa nhà ở tối thiểu 25 - 30m, đảm bảo cao ráo, thoáng mát, thoát nước tốt, thuận lợi cho công việc vệ sinh chuồng trại. 


- Xây dựng hệ thống máng ăn, máng nước đảm bảo láng nhẵn bề mặt để dễ vệ sinh, phải có van nước và xây dựng hệ thống cung cấp nước đầy đủ. Chiều cao mặt trước máng 60 cm, chiều cao mặt sau máng 40 cm, chiều rộng của máng là 35 - 40 cm

Máng phải được đặt ở nơi mát mẻ, tránh ánh nắng chiếu trực tiếp vào nước uống và thức ăn trong máng và thuận lợi khi làm vệ sinh. Máng phải được cọ rửa sạch sẽ hàng ngày. 

- Có kho để thức ăn thô và thức ăn tinh riêng đảm bảo chất lượng và vệ sinh. Kho chứa thức ăn phải thoáng mát, tránh ánh nắng. Các vật chứa thức ăn cần phải có nắp kín. 

- Diện tích chuồng nuôi cho mỗi bò từ 3 - 4 m2 (bò cái), 5 - 6 m2 (bò đực). Nền chuồng phải đảm bảo không trơn trượt, có độ dốc 2 - 3%. Kích thước chỗ đứng: 1,6 x 1,m (bò cái), 2 x 1,8 m (bò đực). 

- Làm hệ thống chống nóng trong chuồng như quạt hoặc hệ thống phun thổi nước vào mùa hè. 

- Chuồng cho bê: 

Thiết kế đáy chuồng cao hơn mặt nền chuồng có kẽ hở để phân và nước tiểu dễ dàng thoát xuống nền chuồng. Trên các thanh ngang của mặt đáy chuồng lót rơm khô (khoảng cách giữa các thanh ngang của đáy chuồng bê tối thiểu là 2 cm). 

Chuồng bê có các giá đỡ xô (cho bê ăn thức ăn tinh và đựng nước uống), máng cỏ hoặc các thức ăn hỗn hợp. Chuồng phải đảm bảo sự thông thoáng.

Vân Đình (nongnghiep.vn)

Kỹ thuật ương tôm hùm lồng

Khi tôm còn nhỏ, kém thích nghi môi trường, cần có chế độ ương dưỡng tốt, để hạn chế tối đa số lượng hao hụt.

Chọn địa điểm ương

Chọn nơi chất lượng nước tốt, ít bị ảnh hưởng bởi nước thải công nghiệp hoặc đô thị. Độ mặn ổn định trong khoảng 30 - 35‰, nhiệt độ 24 - 320C, tốt nhất là 26 - 300C. Đảm bảo có dòng chảy nhẹ khi triều lên, lưu tốc 2 - 3 cm/giây để tăng sự trao đổi nước. Chất đáy là cát, cát bùn hoặc cát, cát bùn pha lẫn san hô nhỏ hoặc vỏ động vật thân mềm.

Thiết kế lồng ương

Lồng hở (lồng cố định): Được đặt tại nơi kín gió. Lồng được cố định bằng các cọc đóng xuống đất thích hợp nơi môi trường ổn định quanh năm. Chiều cao cọc phụ thuộc độ sâu mực nước nơi đặt lồng. Kích thước lồng nuôi có thể 3 × 3 × 2 m hoặc 3 × 2 × 2 m. Khoảng cách lồng với mặt đáy tối thiểu 0,5 m.

Lồng kín (lồng di động): Kiểu lồng này thích hợp với nơi có nhiều sóng gió theo mùa. Lồng này có thể di chuyển khi môi trường ương bị biến động. Kích thước lồng này nhỏ hơn lồng hở để dễ dàng hơn trong quá trình di chuyển. Kích thước thường dùng là 0,7 × 0,8 × 1,2 m hoặc 1 × 1 × 1,2 m. Kích thước lồng có thể to hơn hoặc nhỏ hơn tùy thuộc vào quy mô. Khoảng cách tối thiểu giữa lồng với đáy là 0,5 m. Hiện nay khi ương đa số các hộ nuôi áp dụng kiểu lồng kín (ảnh).

Ảnh: Ngọc Chung 

Vận chuyển, thả giống

Chọn giống: Chọn giống khỏe mạnh, không xây xát. Chọn tôm giống tự nhiên bằng cách lặn bắt hoặc đặt bẫy. Không nên chọn tôm được bắt bằng phương pháp đặt thuốc nổ hay hóa chất gây mê.

Tôm giống nên mua ở địa phương, tránh hiện tượng chênh lệnh điều kiện sống; thời gian vận chuyển ngắn, không phải lưu giữ dài ngày.

Màu sắc tôm tự nhiên, tươi sáng, cân đối, đầy đủ các phần phụ.

Vận chuyển: Dùng thùng xốp kích cỡ 45 × 60 × 35, can nhựa 10 - 20 lít được khoét rộng miệng. Rải một lớp rong biển hoặc cát sạch từ 1 - 2 cm dưới đáy thùng, can. Sau đó cho nước biển vào trong thùng hoặc can, lượng nước cấp khoảng 10 - 12 cm. Cứ 10 lít nước cho 0,5 - 1 viên O2 tablet và 2 giọt Doxalase, khuấy đều và sục khí. Sau 30 phút bắt đầu thả tôm giống vào thùng (can) vận chuyển với mật độ 300 - 400 con/thùng xốp, nếu vận chuyển bằng can thì giảm lại, giảm sục khí không để mạnh tránh làm xáo động rong hoặc cát trong thùng và làm cho tôm không bị sốc. Sau 30 - 45 phút khi thuốc tan hết lại bổ xung thêm 0,5 viên O2 tablet và 1 giọt Doxalase.

Thả giống: Để tôm không  bị sốc, hao hụt, cần làm:

Cho từ từ nước ngoài môi trường lồng nuôi vào trong thùng, can vận chuyển mỗi lần thêm 1 - 2 lít nước, khoảng cách giữa hai lần từ 5 - 10 phút đến khi lượng nước bổ sung vào tương đương với lượng nước trong thùng. Sau đó, nhỏ 4 giọt Doxalase vào thùng, sục khí nhẹ. Dưỡng tôm khoảng 45 phút đến 1 giờ rồi tiến hành thả giống. Khi thả giống cho cả thùng xuống dưới ao khoảng 15 phút rồi nghiêng dần để tôm từ từ bơi ra.

Mật độ thả: 50 - 60 con/m2. Sau 60 ngày san thưa còn 15 - 20 con/m2. Sau 90 ngày san thưa còn 10 - 15 con/m2.

Thời gian thả: Có thể thả từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau, tốt nhất khoảng tháng 1 - 3.

Chăm sóc, quản lý

Tôm hùm ăn tạp; thức ăn chủ yếu là cá tạp, cua ghẹ, cầu gai, nhuyễn thể rong rêu và một số động vật đáy. Tôm càng nhỏ thì nhu cầu dinh dưỡng càng cao; vì vậy khi ương cần chú ý cung cấp đủ thức ăn với chất lượng tốt. Thức ăn phải tươi và chất lượng cao (như cua, ghẹ, tép, ruốc, cá, tôm, vẹm vỏ xanh…) băm nhỏ cho phù hợp khả năng bắt mồi của tôm. Cho tôm ăn hai lần/ngày, vào sáng sớm và chiều tối. Khối lượng thức ăn bằng 15 - 20% trọng lượng tôm.

Thường xuyên kiểm tra lồng, tình trạng tôm, lượng thức ăn thừa hay thiếu. 7 - 10 ngày vệ sinh lồng một lần; dùng bàn chải chải sạch xung quanh lồng nuôi để môi trường nuôi thông thoáng, sạch.

Tôm thường lột xác vào cuối chu kỳ con nước. Trước khi lột xác 4 - 5 ngày, tôm ăn rất mạnh. Đang trong thời gian lột xác thì tôm ăn yếu đi. Vì vậy cần chú ý các giai đoạn này để điều chỉnh lượng thức ăn.

San thưa mật độ theo thời gian nuôi. Không vận chuyển, san thưa khi tôm đang lột xác. Mùa mưa không vớt tôm lên khỏi mặt nước, tránh để tôm tiếp xúc nước ngọt.

Thu hoạch

Tùy vào cỡ giống, sau 5 - 6 tháng nuôi, tôm có thể đạt kích thước 100 - 150 g/con, người nuôi tiến hành thu giống, vận chuyển đến nơi thả nuôi mới.

Để mở rộng việc ương tôm hùm giống, người nuôi cần xem xét đặc trưng thành phần loài, chủng loại thức ăn tự nhiên, nguồn thức ăn tươi có phù hợp điều kiện ương giống hay không.

Nhật Minh (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)