This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sunday, August 9, 2015

Phòng trị bệnh dính chân trong ương tôm giống

Hiện tượng dính chân xảy ra phổ biến trong quá trình ương nuôi ấu trùng tôm, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất giống.

Nguyên nhân

Ấu trùng tôm bị dính chân là do một hoặc một số các nguyên nhân như: nguồn nước trước khi cấp vào bể ương chưa được xử lý kỹ. Việc sử dụng tảo khô Spirulina làm thức ăn cho ấu trùng tôm quá sớm hoặc kiểm soát lượng tảo không chặt chẽ, cho ăn dư thừa quá nhiều. Cho ăn tảo khô quá sớm khi ấu trùng chưa chuyển hết sang Zoea 1, lượng tảo dư tạo thành màng nhầy bám dính vào chân và phụ bộ của ấu trùng. Sử dụng tảo quá già làm thức ăn cho ấu trùng tôm. Khi tảo quá già sẽ nhanh chóng tàn và tạo chất nhớt trong bể ương. Ngoài ra sử dụng tảo, thức ăn, artemia kém chất lượng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cũng tạo chất nhớt dễ bám dính vào ấu trùng tôm. Khi môi trường nước xấu đi do tảo, thức ăn hay phân làm môi trường nước ô nhiễm dẫn đến hiện tượng ấu trùng tôm dính vào nhau thành từng cục làm ấu trùng không thể bơi, không bắt mồi và chết dần. Hiện tượng dính chân xảy ra ở tất cả các giai đoạn trong quá trình ương ấu trùng nhưng thường gặp hơn ở giai đoạn Zoea.

Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, môi trường trong quá trình ương góp phần nâng cao sức đề kháng của ấu trùng tôm - Ảnh: PTC

Cách phòng bệnh

Sau khi tôm đẻ 30 - 32 giờ, thu Nauplius trong bể đẻ và chuyển vào chậu (thùng nhựa) 20 - 100 lít, sục khí nhẹ để ấu trùng phân bố đều, tắm ấu trùng bằng một trong các hóa chất KMnO4 5 ppm, Iodin 5 ppm trong 3 - 5 phút, tắm bằng Formaline 100 - 200 ppm trong 30 - 60 giây để khử trùng trước khi thả vào bể ương, loại bỏ các chất bẩn bám trên ấu trùng trong quá trình ấp. Sau đó tắm lại Nauplius bằng nước sạch để loại bỏ dư lượng thuốc khử trùng.

Nước trước khi đưa vào bể ương ấu trùng tôm phải khử trùng bằng ôzon hoặc Chlorine (25 - 30 ppm) trong là 24 giờ. Trung hòa Chlorine dư bằng thiosulphate theo tỷ lệ 1:1. Dùng test Chlorine kiểm tra Chlorine dư, nước cấp cho bể nuôi vỗ có hàm lượng Chlorine dư < 0,1 ppm. Cấp nước biển đã khử trùng qua túi lọc bông, rồi bổ sung EDTA 10 ppm và sục khí trong thời gian ít nhất 24 giờ trước khi thả ấu trùng Naplius vào ương.

Nếu dùng tảo khô cho ấu trùng ăn chỉ được dùng khi ấu trùng đã chuyển hết sang giai đoạn Zoea 1, cho ăn với lượng vừa đủ tránh dư thừa. Tốt nhất khi tôm ở giai đoạn Zoea nên cho ấu trùng ăn bằng tảo tươi giúp ấu trùng dễ bắt mồi và không làm ô nhiễm nước. Sử dụng nguồn tảo tươi, artemia, thức ăn công nghiệp phải đảm bảo chất lượng, không dùng tảo quá già, tảo không bị nhiễm tạp.

Để phòng hiện tượng dính chân ở ấu trùng tôm cần quản lý tốt môi trường bể ương trong suốt quá trình ương. Định kỳ xi phông đáy, thay nước kết hợp sử dụng một số loại vi sinh có lợi trong việc phân hủy phân và thức ăn dư thừa.

Điều trị khi tôm bị dính chân

Cần giảm lượng thức ăn, nhất là lượng tảo khô. Sử dụng hóa chất như Cloramine 0,25 - 0,5 ppm, Triflan 0,05 ppm để làm sạch chất bẩn bám trên ấu trùng. Thay nước từ 20 - 50% kết hợp với vi sinh nhằm phân hủy nhanh chất bẩn và giúp vi sinh vật có lợi phát triển. Bổ sung EDTA 10 - 30 ppm, Vitamin C và Vitamin tổng hợp với liều lượng 1 ppm, chống sốc cho ấu trùng trong quá trình xử lý. Nếu môi trường nước quá xấu, nước bẩn tạo thành sợi thì sử dụng vợt lưới để loại bỏ chất bẩn ra khỏi bể ương.

Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, chất lượng thức ăn, môi trường trong suốt quá trình ương… không những kiểm soát hiện tượng dính chân còn góp phần nâng cao sức đề kháng của ấu trùng tôm.

Gia Phong (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Kỹ thuật nuôi cá chim vây vàng

Cá chim vây vàng là loài cá nuôi ít rủi ro, cho lợi nhuận 40.000 - 80.000 đồng/kg. Những năm gần đây một số địa phương tận dụng các ao nuôi tôm bỏ hoang do dịch bệnh để nuôi thương phẩm loài cá này.

Chuẩn bị ao nuôi

Nơi có giao thông và địa hình thuận tiện, có chất đất là đất sét hoặc sét pha cát và có nguồn nước cấp chủ động quanh năm. Điều kiện tốt nhất để nuôi cá chim vây vàng là nhiệt độ trong khoảng 26 - 320C, độ mặn từ 10 - 20%, ôxy hòa tan 5 - 7 mg/lítNH3 < 0,9 mg/lít.

Ao nuôi có diện tích từ 2.000 - 5.000 m2 là thích hợp, ao có hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật. Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m. Ao có hệ thống cấp và thoát nước riêng biệt. Đáy ao bằng phẳng, hơi nghiêng về phía cống thoát.

Trước khi thả nuôi khoảng 2 tuần, cần tháo cạn nước, cày xới lớp đất mặt đáy ao, bón vôi với lượng 1.000 - 1.500 kg/ha, tùy theo độ chua, sau đó phơi ao từ 1 - 2 tuần. Cấp nước vào ao nuôi qua lưới lọc có kích thước mắt lưới 2,5 mm.

Chọn và thả giống

Chọn giống khỏe mạnh, không dị hình, không có dấu hiệu mắc bệnh; bơi lội linh hoạt, ngược chiều dòng chảy; có kích thước đồng đều, cỡ giống khoảng 8 - 10 cm, mật độ thả 1 - 2 con/m2 tùy vào điều kiện đầu tư, chăm sóc. Thời gian thả giống vào khoảng tháng 3, tháng 4 trong năm. Trước khi thả tắm cá bằng nước ngọt hoặc fomaline, nồng độ 20 ppm trong 10 - 15 phút. Trong quá trình tắm cần quan sát và cung cấp đủ ôxy, nếu cá có biểu hiện sốc cần giảm nồng độ thuốc hoặc rút ngắn thời gian tắm cá. Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Cá nuôi sau 10 - 12 tháng có thể cho thu hoạch - Ảnh: Nam Anh

Chăm sóc, quản lý

Sử dụng thức ăn viên dạng nổi, loại chuyên dùng cho nuôi cá nước lợ, mặn có hàm lượng đạm 40 - 45%, hàm lượng lipid 12 - 15%, không sử dụng thức ăn kém chất lượng, thức ăn bị ẩm mốc. Khi cá mới thả cho ăn với khẩu phần 3 - 5% trọng lượng thân, khi trọng lượng cá trên 90 g cho ăn với khẩu phần 2 - 3% trọng lượng thân, cá trên 250 g cho ăn với khẩu phần 1,5 - 2%. Để hạ giá thành sản phẩm có thể dùng cá tạp băm nhỏ làm thức ăn cho cá chim vây vàng.

Sử dụng sàng ăn bằng khung nhựa hoặc tre, gỗ để cho cá ăn. Cho cá ăn ngày 2 lần vào 7 - 8 giờ sáng và 17 - 18 giờ chiều. Vào những ngày nhiệt độ nước dưới 220C hoặc trên 320C giảm 50% lượng thức ăn; những ngày nhiệt độ nước dưới 170C hoặc trên 360C, cho cá nhịn ăn. Cần quan sát khả năng bắt mồi của cá và lượng thức ăn thừa trong sàng ăn để điều chỉnh lượng thức ăn một cách thích hợp nhất.

Định kỳ thay nước 1 tháng/lần vào những lúc chất lượng nước thủy triều tốt nhất, tránh thay nước vào đầu con nước. Mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước ao nuôi. Định kỳ sử dụng men vi sinh hoặc chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước ao nuôi.

Từ tháng nuôi thứ 2 cần quạt nước hoặc sục khí để tăng hàm lượng ôxy hòa tan. Thời gian quạt nước khoảng 5 - 8 giờ/ngày vào khoảng 23 giờ hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau. Vào những ngày thời tiết thay đổi, bất thường hay những thời điểm nắng nóng kéo dài cần tăng cường thời gian chạy quạt nước.

Định kỳ bổ sung Vitamin C, Vitamin tổng hợp, men tiêu hóa vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng, chống sốc cho cá nuôi, đặc biệt vào những thời điểm trước khi giao mùa hay trước những đợt nắng nóng.

Kiểm tra tốc độ tăng trưởng và tình hình bệnh cá để có chế độ điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp và biện pháp xử lý bệnh kịp thời.

Thu hoạch

Sau 10 - 12 tháng nuôi cá đạt kích cỡ thương phẩm có thể tiến hành thu hoạch. Cho cá nhịn ăn 1 ngày trước khi thu hoạch. Không thu cá vào những lúc trời nắng to hoặc những ngày thời tiết âm u. Cá có thể vận chuyển tươi sống trong 7 - 8 giờ với mật độ < 50 kg/m3.

Cá chim vây vàng là đối tượng có giá trị kinh tế cao, giá từ 6 - 7 USD/kg, khả năng tiêu thụ rất tốt cả ở thị trường nội địa và xuất khẩu.

Nguyễn Nhung (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Monday, August 3, 2015

Cách quy đổi phân NPK

Sử dụng phân tổng hợp (NPK) để thay thế các loại phân đơn (urê, supe lân, kali clorua…) trong sản xuất hiện nay rất phổ biến đối với nông dân.

Ảnh minh họa

Song sử dụng lượng như thế nào để bảo đảm đủ, giống như bón phân đơn thì nhiều nông dân còn chưa biết, vì không biết cách quy đổi. Xin giới thiệu công thức tính quy đổi từ phân NPK tương ứng ra phân đơn để nông dân biết lượng cần dùng khi mua và bón phân cho cây trồng.

Trên bao bì mỗi bao phân bón tổng hợp NPK luôn có dòng chữ và số ghi rõ ràng tỷ lệ các chất dinh dưỡng có trong bao phân. Ví dụ, phân NPK (5:10:3) hoặc NPK (16-16-8) hay NPK (13-13-13-TE)… Các con số này biểu thị hàm lượng dinh dưỡng nguyên chất của các nguyên tố đạm, lân và kali có trong mỗi loại phân. Ví dụ phân NPK (5:10: 3) có nghĩa là trong 100 kg phân bón tổng hợp này có 5 kg đạm nguyên chất, 10 kg lân nguyên chất và 3 kg kali nguyên chất. 

Cách quy đổi như sau: 

- 1 kg đạm nguyên chất (1 kg N) = 2,17 kg u rê = 5 kg đạm sunphat.

- 1 kg lân nguyên chất (1 kg P2O5) = 6,06 kg supe lân hoặc lân nung chảy.

- 1 kg kali nguyên chất (1 kg K2O) = 1,67 kg kali clorua  = 2 kg kalisunphat.

Ví dụ 1: Trong 100 kg NPK (5:10:3) có 5 kg N, 10 kg P2O5 và 3 kg K2O. 

Vậy sẽ tương ứng có: 5 kg N x 2,17= 10,85 kg u rê = 25 kg đạm sunphat.

10 kg P2O5 x 6,06 = 60,6 kg supe lân hoặc phân lân nung chảy. 

3 kg K2O x 1,67 = 5,01 kg kali clorua = 6 kg kali sunphat. 

Đồng nghĩa rằng, khi nông dân mua 100 kg NPK (5:10:3) về mặt dinh dưỡng sẽ tương ứng với mua 10,85 kg u rê + 60,6 kg supe lân + 6kg kali clorua.

Ví dụ 2: Trong 25 kg NPK (16-16-8) có 4 kg N + 4 kg P2O5 + 2 kg K2O. Tương ứng với 8,68 kg u rê + 24,24 kg supe lân + 3,34 kg kali clorua. 

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách/ Báo Hải Dương)

Saturday, August 1, 2015

Cà chua bị héo xanh

Thâm canh cà chua hiện đã được phát triển rộng rãi trong các vụ ở nhiều vùng nhưng việc khống chế bệnh chết héo xanh đang là bài toán nan giải đối với nông dân.

Ảnh minh họa

Khi cây cà chua chết nhiều vì bệnh này lại là giai đoạn cây đang ra hoa và phát triển quả khiến thiệt hại rất lớn. Xin chia sẻ với bà con một số kinh nghiệm xử lý tình trạng này:

Bệnh chết héo xanh cà chua do vi khuẩn P.solanacearum gây ra. Vi khuẩn xâm nhiễm vào rễ, gốc thân, thân và cuống lá qua vết sây sát. Khi cây cà chua bị bệnh này sẽ dẫn đến hiện tượng héo ngọn rồi kéo theo các bộ phận khác rất nhanh (từ 2-3 ngày sau khi héo ngọn).

Việc phòng trừ bệnh này là rất khó đối với nông dân vì nhiều người khi thấy cây bị héo rồi mới tiến hành phun thuốc, trong khi vi khuẩn lại không thể chết bởi thuốc hóa học và lúc cây héo thì đã là giai đoạn cuối của bệnh. Vì vậy, muốn phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn trên cây cà chua nói riêng cũng như nhiều cây trồng khác bị bệnh này thì biện pháp khả thi nhất là áp dụng tốt kỹ thuật, gồm: 

- Đất trồng cà chua nên luân canh với lúa nước và không trồng liền vụ với các cây họ cà. Không nên làm đất quá nhỏ, khi trồng không nên ấn chặt đất hay dúi sâu rễ để tăng thêm lượng oxy lưu thông trong luống đất cũng như tại vị trí bộ rễ cây, giúp cây ít bị nghẹt rễ và phát triển thuận lợi hơn, vi khuẩn ít tấn công hơn… 

- Tuyệt đối không trồng cây trên phân hữu cơ tươi do quá trình phân hủy, phân này tạo môi trường yếm khí sản sinh ra nhiều axit, là điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn héo xanh sinh trưởng và phát triển mạnh. Nếu nông dân bón phân chuồng cho cà chua thì tốt nhất nên ủ mục và bón vào rạch giữa 2 hàng rồi phủ kín đất. 

- Mật độ trồng vừa đủ: Với những giống cà chua sinh trưởng bán hữu hạn như hiện nay thì mật độ thích hợp cho cà chua phát triển thuận lợi và hạn chế sâu bệnh là: Cây cách cây từ 40 - 45 cm, hàng cách hàng từ 70 - 75 cm (tương đương khoảng 750 cây/sào). 

- Không trồng cây vào vị trí trũng trên luống: Nên trồng ở những vị trí cao nhất trên mặt luống sẽ giúp cây không bị chết úng. Ở những vị trí này sẽ giúp bộ rễ cây phát triển thuận lợi hơn, môi trường không yếm khí thì vi khuẩn héo xanh ít tập trung xâm nhiễm rễ cây trồng.

- Việc tưới nước giữ ẩm cho các luống cà chua cần phải điều hòa, không để quá khô hay quá ẩm. Vì nếu bị khô quá rễ cây sẽ có nguy cơ bị đứt, khi tưới nước thì bộ rễ cây sẽ co giãn tức thời dễ làm vỡ các tế bào rễ non tạo "cánh cửa" cho vi khuẩn héo xanh chui vào bó mạch gây hại. 

- Cần bón phân cân đối. Thời kỳ cà chua còn non không nên chăm bón cho cây tốt quá, nhất là thừa đạm. Chăm sóc sao cho các cây chỉ phát triển trung bình, giúp rễ, thân, lá sẽ cứng cáp và dẻo dai hơn. Gặp thời tiết bất lợi như nắng mưa xen kẽ thì cây có sức chống đỡ tốt hơn, nhất là bộ rễ. Chỉ nên tập trung dinh dưỡng cho cây ở giai đoạn ra hoa, đậu quả đến nuôi quả (kể từ khi cây ra chùm quả đầu tiên).

- Ngoài các biện pháp như trên, nông dân có thể bổ sung thêm vào vùng rễ một lượng nấm đối kháng Trichodecma hay nấm cộng sinh Mycorrhiza ngay sau trồng nhằm ức chế, cạnh tranh và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh héo xanh. Trước khi trồng nên nhúng rễ cây con vào dung dịch nấm đối kháng hay nấm cộng sinh…

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách/ Báo Hải Dương)

Wednesday, July 29, 2015

Hạn chế bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn trong vụ mùa

Đại đa số các giống lúa thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng đang gieo cấy phổ biến hiện nay đều có nguồn gốc từ Trung Quốc (không mang gen kháng vi khuẩn bạc lá).


Do vậy, khi phát triển các giống lúa này trong điều kiện vụ mùa ở các tỉnh phía Bắc nước ta thì hầu hết bị nhiễm bạc lá vi khuẩn, gây tổn hại không nhỏ đến năng suất và chất lượng lúa mùa.

Bệnh bạc lá lúa là do các chủng vi khuẩn Xanthomonas gây nên. Do vậy, nếu cây lúa đã bị nhiễm bệnh thì khó chữa khỏi. Môi trường thuận lợi cho vi khuẩn tấn công vào cây lúa do 2 nguyên nhân chính: Nội tại cây lúa (thân lá mềm, mỏng, dễ bị xây xát, rách tướp) và điều kiện ngoại cảnh (có mưa dông, bão lũ làm xây xát, rách lá). Vì vậy, muốn hạn chế một cách tối đa vi khuẩn bạc lá lúa thì việc bón phân cân đối sao cho nội tại cây lúa không thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập là cần thiết. Xin chia sẻ kinh nghiệm như sau:

Ngay từ đầu vụ, để cây lúa không bị ngộ độc hữu cơ ở giai đoạn giữa vụ do gốc rạ phân hủy cần bón 15 - 20 kg vôi tả/sào. Làm đất phải đủ ngấu để cây lúa không bị nghẹt rễ giai đoạn còn non.

Nên sử dụng chủ yếu các loại phân hỗn hợp (NPK) để bón, nhất là các loại phân có hàm lượng kali cao. Dùng các loại phân đơn (đạm urê, supe lân, kali), nếu bón với tỷ lệ không hợp lý, nhất là thời kỳ đẻ nhánh và sau đẻ nhánh rộ, thừa đạm, lúa sẽ có nguy cơ nhiễm vi khuẩn bạc lá rất cao do lá lúa mỏng, dễ bị rách nát vì va đập.

Với các loại phân này cần bón lót đủ, thúc đẻ sớm và tập trung, đón đòng đúng thời điểm. Cụ thể, cần bón đúng liều lượng và bón theo hướng dẫn của từng loại (căn cứ vào các quy trình bón của mỗi công ty). Dùng NPK để bón thúc đòng nên chọn hình thức bón đón đòng (bón lúa đứng cái) chứ không nên bón nuôi đòng (lúa cứt gián). Trong quá trình sản xuất, các loại phân bón này được ép nén thành viên nên khả năng hòa tan, phân giải chậm hơn phân đơn. 

Đối với những hộ có trình độ thâm canh cao thì có thể áp dụng cách bón như sau:

- Bón lót: Dùng NPK 5:10:3 (25 - 30 kg/sào) bón vùi phân vào đất khoảng 5 - 6 cm (lúc cày bừa lần cuối) hoặc 5 kg phân DAP.

- Thúc đẻ sớm: Bón khoảng 3 - 3,5 kg đạm urê + 2 kg kali/sào (vào lúc cây lúa có khoảng 3,5 - 4 lá thật, lúa bắt đầu đẻ đối với gieo thẳng và cấy mạ sân, hoặc lúa bén rễ hồi xanh đối với lúa cấy mạ dược).

- Thúc đòng: Dùng 2 - 3 kg kali/sào (nếu lúa vàng lá gừng thì cần bón thêm 0,7- 1 kg đạm urê).

* Chú ý: Cần ưu tiên bón kali cao cho các giống hay bị nhiễm bạc lá. Các chân ruộng thuộc loại bùn hẩu cần giảm đạm, tăng kali cho cây cứng, lá dày, đỡ bị bạc lá cuối vụ.

Ngoài việc bón phân cân đối như trên, các chân vàn và vàn cao cần điều tiết nước hợp lý cho lúa phát triển thuận lợi như tháo cạn nước để mùn giun đùn lên khi cây lúa sắp bước vào quá trình đẻ nhánh. Duy trì mức nước 3 - 5 cm đến khi lúa đẻ được từ 300-350 dảnh/m2, rút cạn nước để nẻ nứt chân chim giúp cây lúa cứng, khỏe, bộ rễ ăn sâu, chống đổ tốt khi gặp giông bão vụ mùa. Khi lúa bắt đầu có cứt gián (lúa làm đòng), đưa nước lại ruộng và duy trì mức nước 4 - 6 cm đến lúc lúa trổ thoát và chắc hạt. Khi lúa đỏ đuôi, tháo kiệt nước đến lúc gặt.

Nông dân cần thường xuyên thăm đồng và theo dõi tình hình phát sinh, phát triển của các loài sâu bệnh để phòng trừ kịp thời. Phòng ngừa bệnh bạc lá vi khuẩn cần theo dõi các chương trình dự báo thời tiết diễn biến trong các ngày tới, tiến hành phun thuốc phòng bệnh bằng các loại thuốc như: Thysan, Antracol, Xanthomic, nước vôi trong trước hoặc sau các trận mưa dông, gió bão. Đồng thời, ưu tiên phát triển nhiều trà lúa mùa sớm, nhất là các giống lúa chất lượng có thời gian sinh trưởng ngắn ngày để né được bệnh bạc lá do vi khuẩn gây nên, góp phần giải phóng đất được sớm để phát triển các cây rau màu vụ đông trên các chân ruộng trong cơ cấu luân canh 3 - 4 vụ/năm.

KS. Trần Thị Liên(Trạm Khuyến nông Nam Sách)

Sunday, July 26, 2015

Quản lý sử dụng thức ăn công nghiệp trong nuôi tôm

Trong hoạt động nuôi tôm nước lợ, chi phí thức ăn chiếm đến 70 - 75% giá thành sản xuất. Quản lý tốt thức ăn trong nuôi tôm giúp giảm giá thành sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của vụ tôm.

Lựa chọn thức ăn tôm

Người nuôi nên sử dụng thức ăn viên công nghiệp được sản xuất trong nước hoặc thức ăn nhập khẩu để cho tôm ăn; chất lượng thức ăn phải đảm bảo có hàm lượng đạm tổng số 32 - 45%; thức ăn và chất bổ sung thức ăn phải nằm trong danh mục được phép lưu hành tại Việt Nam, có nhãn hàng hóa đầy đủ theo quy định về ghi nhãn hàng hóa và được bảo quản theo hướng dẫn ghi trên nhãn hàng hóa. Đặc biệt lưu ý, không sử dụng thức ăn đã hết hạn sử dụng.

Kiểm tra sàng cho tôm ăn thường xuyên - Ảnh: Trần Út 

Ngoài ra, tùy vào thực tế (sức khỏe của tôm, chu kỳ lột xác, thời tiết…) và theo dõi sàng ăn/chài khi tôm từ 20 ngày tuổi trở lên để điều chỉnh, quản lý thức ăn cho phù hợp, tránh cho ăn thiếu hoặc thừa đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển và sức khỏe của tôm.

Liều lượng cho tôm ăn

Ngày thứ 10 sau khi thả giống, cho thức ăn vào sàng/nhá/vó để tôm làm quen, thuận lợi cho việc kiểm tra lượng thức ăn dư sau này. Sàng đặt nơi bằng phẳng, cách bờ ao 1,5 - 2 m, sau cánh quạt nước 12 - 15 m, không đặt ở góc ao, khoảng 1.600 - 2.000 m2 đặt 1 sàng. Sau 15 ngày có thể sử dụng các chất bổ sung cung cấp vitamin, khoáng chất theo hướng dẫn của nhà sản xuất để giúp tôm tăng cường sức khỏe.


Đối với tôm sú: Tôm 1 - 3 ngày sau thả nuôi sử dụng thức ăn với lượng 1,2 - 1,5 kg/100.000 giống; ngày 4 - 10 mỗi ngày tăng thêm 200 g/100.000 giống; ngày 11 - 20 mỗi ngày tăng thêm 250 g/100.000 giống; ngày 21 cho đến khi thu hoạch mỗi ngày tăng thêm 300 g/100.000 giống; Đến ngày thứ 31 trở về sau điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp với việc kiểm tra mức độ sử dụng thức ăn qua việc kiểm tra sàng và chài.

Đối với tôm thẻ chân trắng: Ngày đầu tiên sử dụng thức ăn với lượng 2 kg/100.000 giống. Trong 20 ngày đầu tiên, cứ 1 ngày tăng 0,2 kg/100.000 giống. Từ ngày thứ 21, cứ 1 ngày tăng 0,5 kg/100.000 giống. Điều chỉnh thức ăn trong ngày qua theo dõi lượng thức ăn thừa trên sàng ăn.

Người nuôi tôm có thể phối trộn sản phẩm bổ sung như men tiêu hóa, khoáng, Vitamin C… vào thức ăn. Việc chuyển đổi loại thức ăn tôm cần phù hợp theo giai đoạn phát triển, cỡ miệng tôm và nhu cầu dinh dưỡng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Khi chuyển đổi thức ăn, nên trộn lẫn 2 loại thức ăn cũ và mới cho ăn ít nhất 3 ngày.


Cách điều chỉnh lượng thức ăn

Sử dụng sàng ăn rất quan trọng để kiểm tra việc cho ăn, bởi sàng ăn phản ánh khả năng sử dụng thức ăn, sức khỏe, tỷ lệ sống của tôm và điều kiện nền đáy ao nuôi. Sàng ăn thường là tấm lưới mịn với một khung sắt vuông hoặc tròn có gờ cao không quá 5 cm. Diện tích sàng ăn thường từ 0,4 - 0,6 m2. Sàng ăn nên đặt sát đáy ao, nơi sạch sẽ và hơi xa bờ ao. Tùy theo diện tích và mật độ thả mà có thể bố trí một hoặc nhiều sàng ăn trong.


Cách cho ăn: Tôm có khuynh hướng ăn ở những nơi được làm sạch bằng quạt nước, vì vậy cho ăn xung quanh ao được quạt nước làm sạch, tránh rải thức ăn vào nơi dơ bẩn và bờ ao. Tùy theo tình hình thực tế môi trường ao nuôi, thời tiết... mà có thể tăng hoặc giảm lượng thức ăn trong ngày cho phù hợp.

Lưu ý, những ngày thay đổi thời tiết như mưa, nắng gắt chỉ cho 70 - 80% lượng thức ăn đã định. Theo dõi kỳ lột xác để giảm lượng thức ăn và tăng sau khi tôm lột xác xong. Từ ngày thứ 35 trở đi chỉ cho 70 - 80% lượng thức ăn theo yêu cầu. 

Nguyễn Quang Trí (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Quy trình nuôi ốc nhồi thương phẩm

Ốc nhồi thương phẩm có giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn. Việc nuôi thương phẩm ốc nhồi đáp ứng nhu cầu thị trường, giảm áp lực khai thác, bảo vệ và khôi phục nguồn lợi ốc tự nhiên.

Chuẩn bị ao nuôi

Vị trí ao nuôi nên chọn những nơi có khả năng cấp và thoát nước thuận lợi. Diện tích ao nuôi không nên quá lớn vì khó chăm sóc, quản lý địch hại, tốt nhất nên < 5.000 m2. Độ sâu mức nước trong ao 0,5 - 1,0 m. Bờ ao thiết kế cao hơn mức nước tối thiểu là 0,5 m. Đáy ao bằng phẳng, dốc về phía cống tiêu nước. Hàm lượng ôxy hòa tan > 1 mg/l, pH: 6,5 - 8.

Trước khi nuôi cần tẩy dọn sạch bằng cách tháo cạn, cào sạch bùn, cày, bừa, phơi đáy... Tạo độ dốc về phía cống, tu sửa cống. Làm hàng rào lưới ngăn ốc trong khu vực nuôi, để tránh ốc bò ra ngoài và sinh vật khác xâm hại. Sau đó tiến hành diệt tạp và ngăn ngừa sinh vật khác vào ao hại ốc.

Lấy nước vào ao nuôi qua lưới lọc để chắn rác và sinh vật khác vào hại ốc. Thả bèo lục bình làm vật bám cho ốc, diện tích thả bèo chiếm 1/4 diện tích ao nuôi. Làm khung ngăn bèo không để bèo phát triển lan ra quá diện tích cần thả bèo.

Để tạo mùn bã hữu cơ làm nguồn thức ăn tự nhiên trong ao cho ốc, trước khi thả ốc nên bón rơm, rạ băm nhỏ khắp đáy ao với lượng 10 -15 kg/100m2 và phân chuồng đã được ủ hoai với vôi bột, lượng 7 - 10 kg/100 m2. Bón trước khi thả ốc 7 - 10 ngày (khi thấy nước ao sủi bọt thì thả ốc giống).

Ốc nhồi đạt trọng lượng 25 - 30 con/kg cho thu hoạch - Ảnh: Ngọc Trinh

Chọn và thả giống

Chọn ốc giống đảm bảo chuẩn chất lượng, khoẻ mạnh, không bị sứt vỏ, dập vỏ, mòn vỏ và đỉnh vỏ, màu sắc tươi sáng, không có rong rêu bám. Kích cỡ ốc giống từ 0,4 - 0,5 g/con trở lên. Giống được vận chuyển bằng phương pháp giữ ẩm, không cần bơm ôxy nhưng không được đóng kín mà phải có độ thông khí với môi trường bên ngoài. Vận chuyển ốc bằng thùng xốp, có đục những lỗ thủng trên nắp thùng. Dải một lớp ốc sau đó đến một lớp rễ bèo rồi mới đến lớp ốc khác để ngăn cách giữa các lớp ốc. Trước khi thả ra ao, đổ ốc giống ra chậu sau đó cho nước từ từ vào chậu để ốc thích nghi dần với môi trường mới, khoảng 20 - 30 phút sau đó thả ốc xuống ao. Mật độ giống thả nuôi  trong ao là 70 con/m2.

Mùa vụ thả ốc giống: Từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm và nên thu hoạch trước mùa lạnh.

Chăm sóc, quản lý

Thức ăn cho ốc nhồi là các loại rau xanh, bèo, ngũ cốc. Ốc nhồi có tập tính vừa sống nổi vừa sống đáy, di chuyển chậm và thường phân bố không đều trong ao nuôi. Vì vậy cần cho ăn ở nơi ốc tập trung để ốc có thể bắt mồi một cách nhanh nhất, tránh tình trạng để dư hoặc thiếu thức ăn một cách cục bộ (sáng sớm ốc nhồi thường nổi lên mặt nước, bám vào lá sắn, lá dọc mùng, bèo để ăn vì vậy quan sát vào lúc sáng sớm sẽ biết được ốc tập trung ở khu vực nào nhiều hơn). Thức ăn xanh để nguyên cả cây, lá, không băm nhỏ vì ốc có tập tính bám, nó thường  bám dưới mặt lá để ăn. Mỗi ngày chỉ cho ăn thức ăn tinh 1 lần. Lượng thức ăn được điều chỉnh theo khả năng ăn của ốc, khoảng 0,5 - 1% khối lượng ốc trong ao. Trước khi có thức ăn tinh cần kiểm tra sàng ăn, nếu thấy còn thức ăn tinh thì không cho ăn thức ăn tinh lần sau.

Đối với ốc nuôi ở trong ao thì việc kiểm tra thức ăn xanh thừa hay thiếu dễ dàng nhưng kiểm tra lượng thức ăn tinh thì khó hơn phải đặt sàn ăn bằng phên tre đan dày. Trước khi cho ốc ăn lần sau phải kiểm tra thức ăn lần trước trong sàn ăn, nếu thấy còn thì ngừng cho ăn. Nếu ao nhiều mùn bã hữu cơ có thể không cần cho ăn thức ăn tinh mà chỉ cần cho ốc ăn thức ăn xanh.

Sau khi thả ốc giống đến khi 2 tháng tuổi không cần thay nước. Sang tháng nuôi thứ 3, định kỳ 2 tuần thay nước 1 lần, mỗi lần thay 3/4 lượng nước trong ao.

Thu hoạch

Ốc nhồi sau khi nuôi từ 3 - 4 tháng đạt trọng lượng thương phẩm 25 - 30 con/kg thì có thể tiến hành thu hoạch. Nên thu hoạch ốc trước mùa đông. Có thể thu tỉa bằng cách dùng thuyền đi quanh bờ ao để bắt những con to (buổi sáng ốc thường nổi lên bám vào lá dọc mùng, lá sắn, dễ bèo để ăn nên việc thu hoạch rất dễ). Sau khi thu tỉa ốc to, ta có thể thả bù ốc nhỏ. Nếu thu hoạch toàn bộ thì sau khi dùng thuyền để thu, số ốc còn lại trong ao có thể tháo cạn nước ao.

Chỉ với diện tích 2.000 m2, gia đình ông Nguyễn Văn Ngâm, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, nuôi ốc nhồi trung bình thu lãi 20 triệu đồng/vụ.

Trương Gia Phong (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Monday, July 20, 2015

Những lưu ý khi thu hoạch nhãn

Hiện đang là thời điểm thu hoạch nhãn của các địa phương. Để thu hoạch gọn và cây phát triển tốt trong vụ sau, người trồng cần lưu ý:

Ảnh minh họa

Cách phát hiện nhãn đã chín: Người trồng có thể nhận biết quả chín bằng cách quan sát vỏ, cùi và hạt. Quả nhãn khi chín vỏ chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng, vỏ mọng, nhẵn, hạt có màu đen bóng, cùi nhiều nước, thơm và ngọt, dùng tay nắn thấy mềm.

Cách thu hoạch hợp lý: Cành nhãn có các mầm ngủ phía dưới (để tạo hoa quả năm sau). Vì vậy, khi thu hoạch cần dùng kéo cắt nguyên chùm quả cho vào sọt có lót lá chuối. Không cắt hết cành lá vì sẽ ảnh hưởng đến các mầm ngủ phía dưới chùm quả, làm mất khả năng nảy lộc cho vụ sau. Khi thu hái chú ý không để cành bị xước. Nên thu hoạch ngày tạnh ráo vào buổi sáng hoặc buổi chiều. Hái xong nên để quả vào chỗ râm mát. Nếu chưa đem bán kịp thì nên rải quả thành một lượt mỏng, không nên xếp thành từng đống sẽ nhanh hư hỏng. 

Chú ý: Muốn bảo quản quả nhãn được lâu, giữ được mã đẹp và phẩm chất tươi ngon, người trồng cần lưu ý một số khâu sau:

- Trước khi thu hoạch khoảng 1 tuần nên ngừng tưới nước. Cần hái nhãn khi quả đúng độ chín, không nên để nhãn quá chín rồi mới hái. Vì như vậy quả sẽ nhạt, độ tươi ngon sẽ giảm do đó không giữ được phẩm chất vốn có của giống. 

- Không nên thu quả vào ngày mưa vì lượng nước trong quả nhiều, nhãn sẽ không ngọt và hay bị thối. Không nên thu vào ngày quá nóng, quả nhãn sẽ hô hấp mạnh khi ở nhiệt độ cao sẽ không có lợi cho cất trữ và vận chuyển. Nên hái cả chùm, tỉa bỏ các quả bị bệnh, quả bị dập nát và cất trữ, vận chuyển nhẹ nhàng. 

- Có thể dùng túi giấy, hộp các tông hoặc sọt tre, hòm gỗ thưa để bảo quản và vận chuyển. Trong thùng nên lót một lớp mỏng giấy chống ẩm. Nếu có điều kiện nên dùng kho lạnh (từ 5 - 10 độ C) để cất trữ  và bảo quản. 

KS. Trần Thị Liên (Báo Hải Dương)

Dùng bẫy đèn diệt trừ sâu đục thân hại cà phê

Tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng) đang xuất hiện tình trạng sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus quadripes Chevrolat) tàn phá cây cà phê, gây thiệt hại nặng cho nông dân. Theo các chuyên gia nông nghiệp, loại sâu này hoạt động quanh năm và phát triển mạnh ở những khu vực nhiệt độ cao và nhiều ánh sáng.
    
Để phòng trừ kịp thời loại sâu đục thân này, người trồng cà phê cần biết: Sâu đục thân mình trắng trưởng thành là một loại xén tóc nhỏ có màu xanh đen. Con trưởng thành đẻ trứng vào vết nứt của đoạn cành hoặc thân rải rác hoặc thành từng cụm. Sau khi nở, sâu non đục vào gỗ, rồi đục ngoằn nghèo quanh vòng cây, tiện ngang các mạch gỗ. Sâu đục tới đâu, đùn phân và mạt cưa bịt kín đến đó. Đến tuổi 5, tuổi 6 sâu đục ra phía gần vỏ tạo 1 khoảng rộng trong phần gỗ của cây và hoá nhộng tại đó.

Sâu đục thân mình trắng hại cà phê. Ảnh: T.L

- Vòng đời từ trứng - sâu non - trưởng thành - đẻ trứng là 200 - 211 ngày trong vụ đông và 126 - 176 ngày đối với vụ hè.

- Cây cà phê bị sâu đục thân mình trắng gây hại có các biểu hiện sau:

+ Toàn bộ lá phía trên ngọn bị vàng héo, các lá phía dưới còn xanh tốt, cây mọc thêm nhiều chồi thân.

+ Trên thân có những đường lằn nổi lên theo vòng, vỏ bị nứt nẻ, có những lỗ đục đường kính 2-3 mm.

+ Cây dễ bị gãy gục tại chỗ bị sâu đục.

+ Chẻ dọc thân cây thấy có đường rãnh sâu đục, phát hiện có sâu non màu trắng ngà, không có chân, toàn thân gồm nhiều đốt.

Biện pháp phòng trừ:

- Đối với vườn cà phê đang bị sâu đục thân phá hại, cần tiến hành cưa bỏ những đoạn cành, thân cây có sâu đục thân hại để tiêu diệt bằng cách đốt hoặc chẻ thân cây ra, thu sâu non để diệt.

- Con trưởng thành (bướm, xén tóc) thường bị kích thích và thu hút bởi ánh sáng vì thế có thể dùng bẫy đèn để bắt các con trưởng thành và tiêu diệt vào đầu mùa mưa. Thời điểm này chúng thường ghép đôi và sinh sản.

- Sử dụng một số loại thuốc BVTV sau để phun trừ: Hoạt chất Diazinon (Diazol 10G, liều lượng 15g/gốc; Diazan 50EC, liều lượng 2,5 lít/ha); hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl + Cypermethrin (Tungcydan 55EC, liều lượng 1,0 lít/ha)… Lượng nước phun 800 lít/ha, phun lên thân cây 2-3 lần để diệt sâu non ngay từ khi mới nở. Chú ý phun ướt đều toàn bộ cây, đặc biệt phun kỹ thân cây, và phun vào sáng sớm hoặc chiều mát.

- Trồng cây che bóng làm giảm cường độ ánh sáng. Cắt tỉa cành để cây có được bộ tán lá cân đối và thân cây được che phủ từ trên xuống dưới. Bón phân cân đối, đầy đủ để cây phát triển tốt, tăng sức đề kháng cho cây.

- Bảo vệ thiên địch, loài ong Apenesia sahyadrica Azevedo & Waichert ký sinh trên giai đoạn sâu non của sâu đục thân mình trắng.

Ánh Nguyệt (Trung tâm Khuyến nông Quốc gia)