This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Tuesday, May 5, 2015

Kiến vàng trừ sâu hại cây ăn quả

Kiến vàng là nhóm côn trùng có ích có khả năng khống chế và tiêu diệt nhiều loại côn trùng gây hạ

Tổ kiến vàng 

Trong thực tế sản xuất, tại các vườn cây ăn quả phát sinh nhiều loại côn trùng gây hại cây trồng. Người nông dân đã sử dụng thuốc BVTV để phun trừ nhiều lần dẫn đến làm giảm quần thể thiên địch, trong đó có kiến vàng.

Kiến vàng là nhóm côn trùng có ích có khả năng khống chế và tiêu diệt nhiều loại côn trùng gây hại, chúng sống theo bầy đàn, trong tổ kiến vàng bao gồm kiến thợ lớn, kiến thợ nhỏ, kiến đực và kiến chúa. 

Kiến vàng hiện diện quanh năm trong vườn cây ăn quả với mật số rất cao, tuy nhiên mật độ có biến động qua các tháng trong năm, tổ kiến vàng xuất hiện nhiều nhất vào đầu mùa mưa. 

Kiến vàng có khả năng khống chế sự bộc phát sâu vẽ bùa, rầy mềm, rệp sáp và các loại nhện gây hại, bọ xít cam, sâu bướm phượng, sâu đục vỏ trái trong vườn cây có múi. Kiến vàng còn tiêu diệt cả rầy chổng cánh, loài côn trùng môi giới truyền bệnh greening. 

Kiến vàng cũng thích sinh sống trên các vườn cây ăn trái khác như xoài, mận, ổi, đào… và một số cây trồng khác như cây trâm bầu và nhiều cây thân gỗ khác. 

Để bảo vệ vườn cây ăn quả có múi và tăng quần thể kiến vàng, nên trồng xung quanh vườn bằng các loại cây ăn trái và cây trồng khác mà chúng ưa thích, đó chính là cầu nối cho đàn kiến vàng xâm nhập vào vườn cây ăn quả tập trung. 

Thực tế cho thấy, những vườn cây ăn quả được nuôi kiến vàng thì mật độ sâu hại giảm, quả đẹp và bóng hơn so những vườn không nuôi và nhân thả kiến vàng. 

Tuy nhiên, kiến vàng không ăn được những loại sâu có lông, có gai và có tập tính tấn công con người khi động chạm đến môi trường sống của nó, vết cắn gây tổn thương nhẹ và cảm thấy đau buốt, vì khi cắn kiến vàng tiết ra dịch acid gọi là acid formic, không gây độc. Do vậy kiến vàng được xếp vào lớp côn trùng thuộc họ Formicidae. 

Điều kiện thời tiết như mưa to, gió lớn ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt kiến vàng. Mưa gió thường xuyên có thể làm rách tổ, gãy tổ và làm kiến trôi xuống đất. Vào mùa khô, mùa lạnh kiến vàng phát triển kém, có lẽ do cây cối bớt tươi tốt, một số cây rụng lá, ít sâu hại, kiến vàng thiếu thức ăn. 

Ngày nay, do yêu cầu sản xuất an toàn và chất lượng sản phẩm, nhiều địa phương đã nhân nuôi và thả kiến vàng trong vườn cây ăn trái để khống chế sự bùng phát của sâu hại. Tuy nhiên, để nhân nuôi kiến vàng cần phải có những kỹ thuật và hiểu biết cơ bản. 

Nên thu thập những tổ kiến lá còn xanh, có độ to trung bình 20 cm trở lên, cấu tạo bởi 2 lớp lá vì những tổ này dễ có kiến chúa hơn và thả ít nhất 2 tổ vào các ngã ba, ngã tư của cây gần ngọn. Có thể căng dây từ cây có kiến vào vườn để kiến di chuyển sang khi trong vườn có thức ăn cho chúng. 

Kiến hôi tiêu diệt kiến vàng nên trước khi thả kiến vàng vào vườn phải dùng bả để diệt kiến hôi. 

Kiến vàng mới và kiến vàng sẵn có trên cây cũng xung khắc nhau ác liệt, chúng sát hại lẫn nhau và trong lúc “chiến đấu” chúng tiết ra chất acid formic làm cho cành cây bị rám vỏ sau đó khô đi và bị chết, nên phải diệt kiến vàng cũ trong vườn trước khi thả kiến vàng mới. 

Nếu không diệt được hết kiến cũ trong vườn thì phải thả kiến mới từ trên xuống để kiến mới xua đuổi kiến cũ xuống dưới gốc cây. 

Để tránh kiến đánh diệt nhau, khi thu thập các tổ kiến cùng một cây và để chúng vào cùng một túi. Kiến chúa, kiến đực và kiến thợ đều có mật số cao nhất từ tháng 7 đến tháng 10 nên khoảng thời gian này thích hợp để thu thập tổ kiến và thả vào vườn mới. 

Cần phải cho kiến vàng ăn thêm bằng cách treo ruột gà, đầu cá… lên cây, nhất là trong mùa khô, mùa lạnh chúng thiếu thức ăn sẽ bỏ đi. 

Ngoài ra có thể để cơm nguội vào giá đỡ treo lên cây để cung cấp thêm thức ăn cho kiến. Chăm sóc và bảo vệ đàn kiến vàng bằng cách hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV, chỉ phun thuốc khi thật sự cần thiết, sử dụng thuốc ít độc đối với kiến và phun thuốc vào chiều mát, lúc đó kiến đã chui hết vào tổ. 

Không phun trực tiếp lên tổ và không phun liên tiếp nhiều ngày hoặc có thể làm dây căng dẫn dụ kiến ra các cây làm rào chắn xung quanh vườn thì tác động của thuốc hóa học đối với kiến không đáng kể. 

Nên sử dụng dầu khoáng để phun một số loài sâu hại phát sinh và gây hại phổ biến như sâu vẽ bùa, nhện, rệp sáp… sẽ không tác động đến mật số kiến vàng và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Nguyễn Huy Khánh/ nongnghiep.vn

Phòng trị bệnh lợn nghệ

Bệnh lợn nghệ là các bệnh lây lan qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp hay qua đường sinh dục...

Bệnh lợn nghệ do xoắn khuẩn Leptospira SPP gây ra ở lợn, trâu, bò, chuột và lây sang cả người. Bệnh lây do chuột bệnh thải xoắn khuẩn theo nước tiểu gây ô nhiễm môi trường. Bệnh lây qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp và qua những vết xước trên da, niêm mạc hoặc qua đường sinh dục.


Triệu chứng đặc trưng của bệnh là sốt cao, vàng da, nước tiểu vàng. Bệnh gây chết với tỉ lệ cao ở lợn con và gây sảy thai ở lợn nái. Khi mắc bệnh, lợn bỏ ăn, kém vận động, nằm một chỗ, sốt nhẹ và có lúc sốt tới 40 - 40,50C, và sốt lên xuống ngắt quãng từ 3-5 ngày. Lợn bị ỉa chảy, sau đó xuất hiện những triệu chứng điển hình như da vàng, đái ra máu, nước tiểu vàng, sánh. Lợn xuất hiện triệu chứng thần kinh quỵ nửa thân sau, đi lại khó khăn run rẩy, phù đầu, phù mặt, kêu không ra tiếng, ti lệ chết khá cao. Nếu là lợn đực, bao dương vật sưng to, lợn gầy rộc, nếu là lợn cái chửa sẽ bị sảy thai hoặc thai chết lưu.

Phòng trị bệnh:

-Thực hiện tốt các khâu vệ sinh phòng dịch, tích cực tiêu diệt chuột và côn trùng. Tiêm vaccine xoắn trùng vào lúc lợn 410 tháng tuổi. Mỗi đợt tiêm 2 lần, cách nhau 7-10 ngày

- Dùng các kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin và các chế phẩm chứa Tylosin, Tiamulin sẽ có hiệu quả cao. Đặc trị bệnh lợn nghệ là sản phẩm AmTy0 tiêm liều 0,7 – 1ml/10 kg thể trọng; Neodexin 1ml/5 kg thể trọng. Dùng Penicillin 1 triệu UI kết hợp với Streptomycin 1g tiêm cho lợn 50 kg thể trọng. Dùng các loại kháng sinh Ampicilin 0,5g/40 kg thể trọng; Ampi – Kana 1g/40 kg thể trọng; Gentamicin 4% tiêm liều 1ml/6 kg thể trọng. Dùng các loại thuốc trợ lực Vitamin C, B1, B12. 

Nếu bị bệnh, dùng các loại kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin, các chế phẩm chứa Tylosin hay Tiamulin theo chỉ dẫn trên nhãn thuốc, tiêm cho lợn ngày 2 lần trong 5 - 7 ngày. Có thể dùng chế phẩm Leptomycin điều trị cho kết quả cao. Cần kết hợp điều trị nguyên nhân cùng với trợ sức, trợ lực và giải độc cho lợn bằng cách tiêm thuốc bổ với các loại vitamin B1, B.Complex, B12... truyền dung dịch glucoza qua tĩnh mạch tai hay vào xoang bụng cho lợn. Bệnh được phát hiện sớm và điều trị các loại kháng sinh từ 5 - 7 ngày sẽ có hiệu quả cao.

Thanh Vân (Trang Trại Việt)

Friday, May 1, 2015

Phòng trừ rầy chổng cánh

Vào mùa mưa, khi các họ cây có múi (cam, quýt, bưởi...) bắt đầu ra đọt non hoặc trổ bông, là lúc rầy chổng cánh xuất hiện và gây hại, đây được xem là đối tượng côn trùng gây hại nguy hiểm nhất trên cây có múi nói chung. Chúng là vật trung gian truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh vàng lá Greening, một loại dịch bệnh nguy hiểm đã hủy hoại hàng loạt vườn cam, quýt, bưởi trong cả nước.

Vòng đời rầy chổng cánh

Rầy chổng cánh xuất hiện trên cây trồng khi có chồi non. (I.T)

Rầy chổng cánh có tên khoa học là Diaphorina citri Kuwayana, thuộc họ Psyllidae, bộ Homoptera. Rầy chổng cánh sinh trưởng và phát triển trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau, rầy trưởng thành có thể tồn tại được ở nhiệt độ lạnh -40C và cả vùng khí hậu nóng và khô. Thân hình chúng rất nhỏ, thành trùng dài từ 2 - 3mm, ít bay nhảy, có cánh dài, màu xám đen với vệt trắng lớn chạy từ đầu đến cuối cánh, lúc đậu cánh và bụng nhô cao hơn khỏi đầu tạo thành một đường xiên 30 - 450C. Vòng đời của rầy chổng cánh từ 28 - 32 ngày, có thể có từ 12 - 14 thế hệ/năm. Chúng trưởng thành sau vũ hóa 4 - 5 ngày sẽ bắt cặp. Con cái đẻ khoảng 200 - 800 trứng vào ban ngày, thời gian ủ trứng từ 3 - 7 ngày, ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 18 - 25 ngày.  


Rầy chổng cánh xuất hiện trên cây trồng khi có chồi non, nếu ký chủ chính như cam, quít, bưởi... không có chồi non thì rầy di chuyển sang các ký chủ phụ như nguyệt quế, cần thăng để duy trì mật số. Chúng tạo mật độ cao vào đầu mùa mưa (từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 7 đến tháng 12 trong năm) là lúc cây ra lá non và trổ hoa.

Biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác:

+ Loại bỏ nguồn bệnh ra khỏi vườn; thường xuyên thăm vườn, nếu phát hiện có cây nhiễm bệnh cần loại bỏ ra khỏi vườn ngay lập tức.

+ Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để hạn chế sự tái xâm nhiễm của rầy chổng cánh từ nơi khác đến, vì gió cũng có ảnh hưởng đến sự phát tán và di chuyển của rầy trưởng thành; trồng xen ổi xá lỵ trong vườn trước khi trồng cam, quýt bưởi...  từ 2-6 tháng; trồng cây sạch bệnh, xử lý thuốc trước khi vận chuyển cây giống cũng như trồng cây ra vườn.

+ Tỉa cành và bón phân hợp lý để điều khiển các đọt non ra tập trung. Áp dụng các quy trình tỉa cành tạo tán theo kỹ thuật tiên tiến để cho cây được thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

+ Không nên trồng các loại cây hấp dẫn họ cam quýt như nguyệt quế, cần thăng, kim quýt gần vườn cây có múi.

+ Trồng cây thưa với khoảng cách (3 x 3m) đối với cam, quýt; (2,5 x 2,5m) đối với cây ổi, với tỷ lệ xen kẽ 1 cam: 1 ổi.

Biện pháp sinh học:

+ Tạo điều kiện cho thiên địch trong vườn phát triển như kiến vàng, các loại ong ký sinh, ấu trùng bọ rùa, ấu trùng bọ cánh lưới, ruồi ăn mồi. Ngoài ra còn có một số loài nhện hiện diện trong vườn cũng làm giảm mật số rầy chổng cánh đáng kể, trong đó có các họ Lilyphiidae, Therdiosomatidae, Thimisidae...

+ Phun dầu khoáng khi thấy đọt non ra dài từ 5mm – 10mm, khoảng 2% số cây trên vườn ra đọt non, mỗi đợt phun 2 lần, loại dầu khoáng có thể sử dụng là SK Espray 99EC theo liều lượng khuyến cáo. Lưu ý, trước khi phun dầu khoáng phải tưới nước cho vườn cây từ hôm trước.

+ Sử dụng các loại thuốc sinh học như Abamectin, Ebamectin, chất chiết xuất từ tỏi, dầu neem, nấm ký sinh, vi khuẩn Bacillus thuringiensis và các chất xua đuổi khác.

+ Dùng bẫy màu vàng để theo dõi rầy chổng cánh, mỗi vườn nên đặt ít nhất 5 bẫy để theo dõi (4 bẫy ở 4 gốc và 1 bẫy ở giữa vườn). Khi phát hiện rầy chổng cánh bay vào bẫy vàng thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trị.

Biện pháp hóa học:

+ Tưới thuốc lưu dẫn xung quanh gốc cây theo liều lượng khuyến cáo, như gốc Clothianidin, Thiamethoaxam, Imidacloprid.

Cách tưới: Dùng cào răng cưa, cào nhẹ lớp đất mặt xung quanh gốc cây, cách gốc 10cm, tới tầng rễ cám (rễ mềm); tưới thuốc BVTV xung lớp đất cào; ốp đất lại nơi vừa tưới.

+ Phun một số thuốc trừ rầy thông thường, lúc cây vừa ra đọt non.

Trồng xen ổi phòng rầy chổng cánh 

Chọn giống ổi: Ổi xá lỵ nghệ; nhân giống bằng chiết cành, ghép cành. 

Chọn giống cây cam quýt phải sạch bệnh. 

Trồng ổi trước 6 tháng và sau đó trồng cam quýt. 

Khoảng cách trồng ổi: 2,5 x 2,5m hoặc 3 x 3m. 

Khoảng cách trồng giống cam quýt 2,5 x 2,5m hoặc 3 x 3m; bưởi: 5 x 5m hoặc 6 x 6m. 

Chiều cao cây ổi thấp hơn cây cam quýt là 20 - 30cm. 

Vườn cây trồng xen phải thoát nước tốt. 

Thùy Dương (Trang Trại Việt) 

Wednesday, April 29, 2015

Kỹ thuật nhân giống cây điều bằng phương pháp ghép non nối ngọn

Cây điều là cây giao phấn điển hình, do đó nhân giống bằng hạt cây giống sẽ phân ly mạnh làm giảm năng suất chất lượng, tính ổn định và độ đồng đều giữa các cá thể ở thế hệ sau. Do đó, để giữ ổn định những đặc tính tốt về năng suất và chất lượng của cây mẹ thì phải nhân giống cây điều bằng phương pháp vô tính (giâm, chiết, ghép). Hiện nay, nhân giống cây điều bằng phương pháp ghép non nối ngọn cho kết quả tốt nhất.

Thao tác ghép chồi vạt ngọn

1. Chuẩn bị chồi ghép

Để có đủ chồi ghép cho hàng năm, ta phải trồng vườn nhân chồi ghép hoặc có thể chọn chồi ghép từ những vườn sản xuất.

Vườn nhân chồi ghép:

- Vườn trồng cây lấy chồi ghép gọi là vườn nhân chồi ghép gồm những cây điều giống tốt, đã qua tuyển chọn. Nên trồng vườn nhân chồi ghép sớm hơn một năm để cây có thể cho một số lượng chồi đủ để tiến hành sản xuất giống vào năm sau. Mỗi dòng điều được trồng trong một khu vực riêng theo sơ đồ và có bảng tên phân biệt để tiện việc quản lý chồi ghép. Vườn nhân chồi ghép có thể trồng theo mật độ 2.200 cây/ha với khoảng cách 1,5 x 3 m hoặc 3.300 cây/ha với khoảng cách 1 x 3 m.

- Khi cây 2 tầng lá thì tiến hành cắt ngọn để tạo tán thấp và nhiều cành cấp 1-2 để thu được nhiều chồi. Chồi vượt dưới vết ghép phải được đánh bỏ thường xuyên.

- Hàng năm sau khi thu hoạch chồi, chiều cao cây và đường kính tán phải được hãm thấp ở phạm vi 1,0 - 1,2 m.               

Chọn chồi từ vườn sản xuất:

Trong trường hợp không có vườn nhân chồi ghép thì có thể lấy chồi ghép ở vườn sản xuất nhưng phải chọn ở những cây có từ 3 vụ quả trở lên, năng suất ổn định; tỷ lệ nhân hạt > 28%, kích cỡ hạt < 160 hạt/kg, có 5-10 quả/chùm, tỷ lệ chồi ra hoa > 75%; cây sinh trưởng khỏe, phát tán đều và ít sâu bệnh.

Tiêu chuẩn chồi ghép:

Cành ở ngoài sáng; không quá già hoặc quá non (màu nâu nhạt), có đỉnh chồi to và lá sắp bung ra là tốt nhất; đường kính cành > 0,6 cm; chiều dài cành 7-10 cm; không có vết sâu, bệnh.

Sau khi cắt chồi, tỉa bỏ phiến lá, giữ cho chồi tươi bằng cách bọc trong vải ẩm đặt vào thùng xốp có chứa nước đá, đậy kín thùng xốp và đặt vào nơi thoáng mát. Trong điều kiện thiếu chồi ghép có thể dùng đoạn cành kế chồi ngọn để làm chồi ghép.



2. Chuẩn bị gốc ghép

a. Thiết kế vườn ươm gốc ghép

- Vườn ươm gốc ghép phải đặt nơi cao ráo, thoát nước tốt. Xung quanh khu vực vườn ươm phải quang đãng, không có cây che bóng.

- Bầu ươm: bằng túi nhựa P.E màu đen, dày 0,15mm, kích thước túi bầu 15cm x 25cm hoặc 18cm x 28cm, bầu được đục lỗ thoát nước và bảo đảm độ thoáng khí.

- Hỗn hợp đất vào bầu được trộn theo thể tích như sau: 70 - 90% đất mặt + 10 - 30% phân chuồng hoai + 0,5% Supe lân. Hỗn hợp đất, phân trộn đều và được phun thuốc chống nấm hại rễ 1 - 2 ngày trước khi đóng bầu.

- Bầu ươm gốc ghép được đặt theo luống, mỗi luống xếp từ 4 hàng. Rãnh luống rộng 60 - 80 cm để dễ dàng thực hiện thao tác ghép.     

b. Giống điều làm gốc ghép:

Kinh nghiệm cho thấy sử dụng hạt của cây điều sẻ lùn làm cây ghép sẽ tránh được tình trạng cây điều ghép phát triển không đều. Cây điều sẻ là cây điều lùn, hạt nhỏ (trên 250 hạt/kg) nên hệ số nhân giống cao, sức sống của hạt khoẻ, cây con phát triển mạnh, đồng đều, ít thấy hiện tượng phân ly khi gieo bằng hạt.

c. Xử lý và gieo hạt giống

- Hạt giống làm gốc ghép được thu gom trên các cây mẹ có năng suất cao và sinh trưởng khỏe, được rửa sạch phơi khô đến độ ẩm 8-10%. Bảo quản hạt trong điều kiện khô ráo và kín gió.

- Xử lý hạt: thả hạt vào nước và loại bỏ những hạt nổi, rửa sạch. Ngâm hạt trong ba ngày, hai ngày đầu trong nước, ngày thứ ba trong nước có pha thuốc trừ sâu bệnh (Basudin 0,5% + Benlate C 0,5%) để hạn chế kiến đục nhân và nấm bệnh tấn công hạt khi mới nẩy mầm. Thay nước 1 lần/ngày. Sau đó, ủ hạt trong bao tải (bao gai) hay cát ẩm, nền thoát nước, nơi râm mát, có thể phủ nhẹ trên mặt bằng rơm rạ. Sau 4 - 5 ngày thì hạt nảy mầm.

- Gieo hạt: Khi hạt nảy mầm dùng lưỡi lam cắt chóp rễ (để rễ hình thành chùm rễ cọc sau này) và gieo hạt vào bầu ươm đã được chuẩn bị sẵn. Mỗi bầu gieo 1 hạt, đặt eo hạt tiếp xúc với mặt đất và ấn chìm hạt ngay xuống mặt đất. Tưới ẩm bằng ô doa hoặc vòi phun hàng ngày.

d. Chăm sóc cây con trong bầu

- Tưới đủ nước và làm cỏ sạch khi cây còn nhỏ. Phun thuốc Sherpa 25EC để phòng sâu hại lá, sâu đục ngọn và bọ xít muỗi. Phun thuốc trừ nấm để phòng bệnh lở cổ rễ, đặc biệt thường xảy ra trong tháng đầu tiên khi cây con chưa hóa gỗ.

e. Tiêu chuẩn gốc ghép

- Cây con ươm bằng hạt trong bầu được khoảng 45-60 ngày thì tiến hành đảo bầu (nhấc rễ), loại bỏ các cây còi cọc hoặc dị dạng và xếp lại thành từng ô với mức độ sinh trưởng khác nhau để tiện chăm sóc. Sau đó để cây con ổn định trong thời gian 15 - 30 ngày thì tiến hành ghép.

- Tiêu chuẩn cây gốc ghép:

+ Đường kính thân từ 7 - 10mm.

+ Có từ 10 - 15 lá trở lên.

+ Tuổi cây từ 60 ngày tuổi trở lên.

+ Cây con khỏe mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh.

3. Kỹ thuật ghép nối ngọn

Yêu cầu: thực hiện ở nơi râm mát; thao tác nhanh gọn; buộc dây cố định vết ghép thật chặt, tránh tiếp xúc với nước (phòng ngừa nấm bệnh xâm nhiễm).

a. Ghép chồi nêm ngọn:

- Dùng dao ghép cắt ngang ngọn gốc ghép cách mặt đất 10-15 cm, để lại 2-3 lá thật trên gốc ghép. Sau đó chẻ đôi gốc thành 2 phần bằng nhau và dài khoảng 3 cm.

- Vạt xiên 2 bên chồi ghép tạo thành hình cái nêm.      

- Đặt chồi ghép vào trùng khít với gốc ghép đã chẻ, nếu đường kính của chồi ghép và gốc ghép khác nhau thì để cho một bên mép vỏ của chồi ghép và gốc ghép liền khớp nhau. 

Dùng băng ni-lông mỏng quấn chặt từ dưới lên trên để cố định và bịt kín chồi ghép.

b. Ghép chồi vạt ngọn:

- Dùng dao ghép vạt xiên thân gốc ghép một mặt phẳng nghiêng dài 3-4cm, cách mặt đất 10 - 15 cm. Chừa lại 2 - 3 lá thật trên gốc ghép.

- Đối với chồi ghép cũng vạt một mặt xiên tương tự, sau đó áp mặt cắt của chồi ghép vào gốc ghép. Dùng dây nilon quấn chặt từ dưới lên trên để cố định và bịt kín chồi ghép.

c. Thời vụ ghép

Thời vụ ghép tốt nhất, đạt tỷ lệ sống cao là từ tháng 2 - 7. Thời vụ này sử dụng chủ yếu chồi ghép từ vườn nhân chồi. Trong thực tế, từ tháng 2 đến tháng 5 là thời kỳ cây điều có hoa, mang quả nên nếu sử dụng chồi từ cây mẹ thì thời vụ tốt nhất là từ tháng 6 - 7

Nên ghép vào buổi sáng lúc trời mát, lúc cây đã hút đủ nước qua đêm. Thời gian ghép tốt nhất là 6 - 10 giờ sáng.

4. Chăm sóc cây ghép

- Cây sau khi ghép được tưới ẩm bằng vòi phun hoặc ô doa hàng ngày, 2 - 3 ngày đầu có thể tưới số lần nhiều hơn.

- Khi cây ghép đã bứt chồi, nếu tầng lá thứ nhất của cây phát triển kém có thể tưới phân NPK loại 16:16:8 nồng độ 1 - 1,5%.

- Thường xuyên kiểm tra để cắt bỏ các chồi mọc ra ở phía dưới vết ghép.

- Đảo bầu: Khi cây ghép có tầng lá đầu tiên phát triển hoàn chỉnh (thường phải từ 4-6 tuần kể từ lúc ghép) thì tiến hành đảo bầu và phân loại cây.

5. Tiêu chuẩn cây điều ghép trước khi xuất vườn


 - Có đủ 2 tầng tán lá khoẻ, lá bánh tẻ, tầng lá thứ 2 cứng cáp, không héo khi vận chuyển trồng.

- Chiều cao cây > 30 cm

- Đường kính gốc ghép đạt 0,8 - 1 cm trở lên

- Điểm ghép chắc liền, tròn đều trên thân chính. Chiều cao điểm ghép không quá 20cm.

- Cây xuất vườn phải được đảo bầu tối thiểu trước 10 ngày.

Thông thường sau khi ghép 2 tháng cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn.

Ánh Nguyệt/ TTKNQG

Tuesday, April 28, 2015

Thối hoa và quả trên mít non

Tôi trồng khoảng 20 gốc mít đã vào giai đoạn cho trái. Nhưng không hiểu sao thời điểm ra hoa đến trái mít non cỡ trên dưới ngón tay đều thối. Bệnh có phòng trị được không, nhờ Bạn Nhà nông hướng dẫn. Chị Nguyễn Thị Quýt (Ngãi Tứ - Tam Bình)

Ảnh minh họa

Đây là bệnh thối hoa và trái non, do một loại nấm gây ra. Trong thực tế có người cứ tưởng đây là những hoa mít đực nên việc thối rụng đi là điều đương nhiên. Đã có những cây mít không cho trái bởi vì hoa và trái non đã bị bệnh này gây hại làm rụng hết. Trên một chùm nếu một hoa hoặc trái non bị bệnh thì những quả còn lại khó tránh khỏi.

Khi hoa, quả đã bị bệnh thì hầu như không có cách nào chữa trị khỏi mà phòng ngừa là giải pháp chính.

Cụ thể, định kỳ chị nên tỉa bỏ những cành nhỏ, không có khả năng cho trái để vườn luôn được thông thoáng; thu gom kịp thời những hoa, quả đã bị bệnh đem tiêu hủy để hạn chế bệnh lây lan ra những quả xung quanh. 

Nếu vườn thường xuyên bị bệnh gây hại hàng năm thì mỗi khi cây mít ra hoa, quả non nên phun xịt một trong các loại thuốc như: Bemyl 50WP, Bendazol 50WP, Benotigi 50WP, Fundazol 50WP, Benzeb 70WP... để phòng bệnh.

Chúc chị áp dụng hiệu quả!

Nguồn: Báo Vĩnh Long

Monday, April 27, 2015

Một số lưu ý đầu vụ tôm 2015

Dịch bệnh tôm đã xảy ra ở nhiều tỉnh, thành ĐBSCL. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là hoại tử gan tụy trên tôm thẻ chân trắng và đốm trắng trên tôm sú.  

Chuẩn bị ao nuôi tôm

Do nắng nóng kéo dài trên diện rộng sẽ gây nhiều khó khăn cho các hộ nuôi. Theo khuyến cáo của ngành thủy sản, người nuôi nên thả trễ và nên chọn mô hình phù hợp với khả năng quản lý của nông hộ, phải có ao lắng, cải tạo ao thật kỹ, khử trùng nước trước nuôi tôm, chọn thả giống đạt kích cỡ, đã được kiểm dịch, thường xuyên quản lý mật độ và kiểm soát điều kiện ao nuôi, thức ăn. Kiểm tra sức khỏe tôm hàng ngày. 

Để chủ động phòng bệnh, cần chú ý những vấn đề như cải tạo ao, chuẩn bị nước trước khi thả giống. Nguồn nước ban đầu trước khi thả tôm có vai trò cực kỳ quan trọng trong suốt quá trình nuôi sau này. 

Do đó, cần phải bảo đảm nước ao sạch và ổn định, không còn các sinh vật có khả năng gây bất lợi cho tôm nuôi. Xử lý nước ở ao lắng bằng Vimekon trước khi đưa sang ao nuôi; lấy nước vào ao phải qua túi lọc 2 lớp và để lắng khoảng 3 - 5 ngày, sau đó xử lý diệt tạp và sát trùng nước. Diệt giáp xác bằng Anti-parasite. 

Người nuôi có thể dùng Chlorine, Vime-paracide hoặc Vimekon để sát khuẩn nước, cần lưu ý Chlorine chỉ sử dụng có hiệu quả cao ở nước trong và pH £ 8. Do đó khi dự định dùng Chlorine cần để nước lắng thật trong và không nên bón nhiều vôi ở khâu cải tạo. 

Về con giống, con giống tốt là yếu tố quan trọng nhất để thành công trong nuôi tôm. Hiện nay trên thị trường có rất nhiều nguồn giống khác nhau. Người nuôi cần chọn giống ở những cơ sở có uy tín, có nguồn gốc rõ ràng, đặc biệt phải kiểm tra chất lượng giống trước khi thả nuôi. 

Phương pháp cảm quan và gây sốc formol giúp lựa chọn được đàn tôm khoẻ mạnh nhưng chưa bảo đảm sạch bệnh và xét nghiệm PCR có thể đánh giá tôm giống có nhiễm các bệnh nguy hiểm (đốm trắng, đầu vàng, MBV) lại không cho biết tình trạng sức khoẻ của tôm. 

Do đó, cần chú ý kết hợp cả ba phương pháp trên theo thứ tự cảm quan – gây sốc – xét nghiệm PCR. Tôm giống đạt cả ba cách đánh giá này sẽ là con giống vừa khoẻ mạnh vừa sạch bệnh, tạo tiền đề quan trọng để có sức sống và tăng trưởng cao trong quá trình nuôi. 

Thả giống là một công đoạn kỹ thuật đơn giản nhưng lại chịu tác động của nhiều yếu tố ngoại cảnh, khách quan. Do vậy, cần lưu ý một số vấn đề: 

- Không nên thả bao tôm vào ao quá 30 phút sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và sức khoẻ của tôm giống. 

- Giống đã được hạ độ mặn sau khi chuyển về đến ao nên được thả ngay, không nên giữ lại trong thau, xô (lâu hơn 3 giờ) để sục khí cho tôm khoẻ vì nếu giữ lại như thế với mật độ cao, sục khí yếu và không cho tôm ăn sẽ làm giảm sức sống và tỉ lệ sống của tôm. Bên cạnh đó, người nuôi cần theo dõi sát biến động thời tiết môi trường, để chủ động tăng sức đề kháng cho tôm nuôi bằng cách bổ sung Vitamin C, b-glucan, Premix tôm. 

Quản lý chất lượng nước tốt là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. 

Các yếu tố môi trường cần chú ý trong ao nuôi tôm


ThS Nguyễn Ngọc Phú Vinh/ nongnghiep.vn

Sunday, April 26, 2015

Quy trình sinh sản ốc nhồi giống

Nguồn ốc nhồi tự nhiên đang đến mức báo động do môi trường sống bị ô nhiễm và khai thác quá mức. Để phục vụ nuôi ốc nhồi thương phẩm chủ yếu dựa vào nguồn giống từ sinh sản nhân tạo.

Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi phải có bờ bằng đất, bờ ao thoáng, không rậm rạp, cao hơn mức nước cao nhất trong ao 0,5 m, độ sâu mức nước trong ao 0,5 - 1 m. Chất lượng nước tốt, không ô nhiễm, pH 6,5 - 8, hàm lượng ôxy > 1mg/l.

Ao được tháo cạn, cào sạch bùn, cày, bừa, phơi đáy. Tạo độ dốc về phía cống, tu sửa cống. Làm hàng rào lưới ngăn ốc trong khu vực nuôi, để tránh ốc bò ra ngoài và sinh vật khác xâm nhập hại ốc. Diệt tạp và ngăn ngừa sinh vật khác vào ao hại ốc. Để tạo mùn bã hữu cơ làm nguồn thức ăn tự nhiên cho ốc, trước khi thả ốc nên bón rơm, dạ băm nhỏ khắp đáy ao với liều lượng 10 - 15 kg/100m2  và phân chuồng đã được ủ hoai với vôi bột, liều lượng 7 - 10 kg/100 m2. Bón trước khi thả ốc 7 - 10 ngày (khi thấy nước ao sủi bọt thì thả ốc).

Nước cấp vào ao phải được lọc qua lưới để chắn các sinh vật khác vào hại ốc. Thả bèo lục bình làm vật bám cho ốc, diện tích thả bèo chiếm 1/4 diện tích ao nuôi. Làm khung ngăn bèo không để bèo phát triển lan ra quá diện tích cần thả bèo.

Chọn ốc bố mẹ

Ốc bố mẹ được chọn là những con to ( > 30 g/con), màu sắc sáng, không đóng rong rêu, tỷ lệ đực : cái là 1:1. Đến mùa sinh sản, ốc cái nhìn qua lớp vỏ ngoài của vòng xoắn thứ 3, thứ 4 tính từ đỉnh vỏ xuống ta có thể nhìn thấy buồng trứng màu vàng rất rõ nhất là ở những con cái đã thành thục. Ốc đực có tháp vỏ (đỉnh vỏ) nhọn hơn ốc cái.

Chăm sóc ốc bố mẹ

Mỗi ngày cho ốc ăn 1 lần vào buổi chiều. Thức ăn gồm hai loại: Thức ăn xanh là các loại lá cây không đắng, không độc như lá sắn, lá dọc mùng, bèo, các loại rau (rau muống, mùng tơi, rau ngót, rau bắp cải,…). Thức ăn xanh để nguyên cả lá, bèo để nguyên cả cây rắc quanh bờ ao. Thức ăn tinh là các loại ngũ cốc (bột đậu tương, cám gạo, bột sắn). Lượng thức ăn tinh mỗi ngày cho ăn 0,5 - 1% lượng ốc trong ao.

Ốc đẻ trứng trên bờ ao vì vậy phải dọn sạch bờ ao, không để cây cỏ rậm rạp, nhưng cũng không quá trơ trụi mà phải có cây cỏ thưa vì ốc có tập tính làm tổ dấu trứng dưới các cây cỏ.

Ốc giống được nuôi sau 3 tháng có thể cho thu hoạch - Ảnh: Gia Bảo

Thu và ấp trứng

Trứng ốc nhồi sau khi được đẻ ra trong thời gian rất ngắn (15 - 20 phút) là trứng đã cứng ta phải tiến hành thu ngay. Thu các chùm trứng cho vào khay nhựa, không để chồng các chùm trứng lên nhau, cũng không để quá sát vào nhau sẽ làm dập trứng.

Ấp trứng có thể ấp vào khay nhựa, đặt khay nhựa chứa trứng trên mặt nước trong bể xi măng, mỗi ngày phun nước cho trứng một lần để giữ độ ẩm cho trứng. Thời gian ấp từ 13 - 20 ngày trứng ốc sẽ nở ra ốc con, tùy thuộc vào nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp để ấp nở là 25 - 300C. Căn cứ vào thời gian đưa trứng vào ấp và màu sắc của chùm trứng ta có thể biết được trứng sắp nở để chuẩn bị ao (bể), thức ăn ương nuôi ốc con lên ốc giống. Trứng ốc mới đẻ ra có màu trắng sau đó chuyển dần sang màu xám, khi trứng sắp nở trứng có màu xám đen, sờ vào chùm trứng ta thấy mềm nhũn, nhìn qua lớp vỏ trứng ta thấy rõ được cả ốc con đang vận động trong lớp vỏ.

Ốc con sau khi nở ra đã có hình dáng giống với ốc trưởng thành. Ốc con mới nở ra đã có khả năng vận động mạnh, bò tìm nơi có nước và tìm vật bám. Ốc con dễ dàng bò ra khỏi khay ấp xuống bể xi măng, ta có thể ương nuôi ốc con lên ốc giống ngay trong bể ấp.Ta cũng có thể ấp trứng trong giai mắc trong ao đất, chú ý phải che giai tránh để ánh nắng trực tiếp chiếu vào trứng, cũng không để trứng bị nước mưa vào sẽ làm ung trứng. Để giữ độ ẩm cho trứng nên dải một lớp rễ bèo tây lên trên trứng (rễ bèo tây phải được khử trùng bằng thuốc tím KMnO4).

Ương nuôi ốc con lên ốc giống

Có thể ương trong bể xi măng hoặc ương trong giai mắc trong ao đất đều cho tỷ lệ sống cao.

Ương trong bể xi măng: Diện tích bể không nên quá to vì ốc ương nuôi được ở mật độ cao, bể nhỏ dễ chăm sóc quản lý hơn (bể nên có hình chữ nhật, diện tích 2 - 4 m2). Bể trước khi ương phải được dọn sạch, khử trùng bằng thuốc tím KMnO4. Nếu là bể mới phải ngâm thời gian ít nhất là 20 ngày trước khi sử dụng. Nước lấy vào bể ương là nước ao hay nước giếng khoan đều được.

Ương trong giai (Giai được mắc trong ao): Giai ương bằng lưới cước dày như giai ương tôm giống, cá giống đảm bảo thức ăn và ốc con không lọt ra ngoài, diện tích giai không nên quá rộng để dễ làm vệ sinh thường từ 2 - 4 m2 là vừa. Mực nước trong bể ương không cần quá sâu, chỉ cần 30 - 50 cm. Mật độ thả 5.000 con/m2. Thả bèo ván làm vật bám cho ốc (thả 1/3 diện tích nuôi).

Thức ăn và chế độ chăm sóc

Ốc con mới nở ra đã có tính ăn như ốc trưởng thành, có thể sử dụng các loại thức ăn như sau: Thức ăn xanh là lá sắn, bèo (bèo tấm, bèo ván ), lá mùng trắng. Thức ăn tinh là cám gạo, bột đậu tương, bột cá nhạt, bột ngô, bột sắn, phối trộn theo tỷ lệ (30% cám gạo, 50% bột đậu tương, 30% bột sắn).

Đối với thức ăn xanh không nên thái nhỏ mà để cả lá, bèo thì để nguyên cả cây, để ốc con dễ bám vào ăn và hạn chế làm bẩn nước. Thức ăn tinh dải trên mặt nước không cần nấu chín (trừ bột đậu tương là phải rang chín trước khi nghiền thành bột). Ốc nghiêng về thức ăn thực vật hơn nên cho ốc ăn thức ăn xanh là chính, thức ăn tinh chỉ cho ăn thêm với lượng 1 - 1,5% trọng lượng ốc.

Kiểm tra lượng thức ăn cho ăn hàng ngày xem thừa hay thiếu. Ở trong bể xi măng cũng như trong giai đều rất dễ kiểm tra, quan sát có thể thấy được lượng thức ăn thừa trong bể (giai) để giảm lượng thức ăn, vớt bỏ các cọng thức ăn xanh thừa, cứng ốc không ăn hết.

Chế độ thay nước

Ốc ương nuôi trong bể nếu cho ăn hợp lý hàng ngày không thừa thức ăn tinh thì mỗi tuần chỉ thay nước 1 - 2 lần. Mỗi lần thay toàn bộ lượng nước trong bể. Đối với ốc nuôi trong giai thì mỗi tuần vệ sinh xung quanh giai và vệ sinh đáy giai 2 lần bằng cách dùng bàn chải có cán dài cọ xung quanh giai và cọ đáy giai sau đó té nước để loại bỏ bớt chất trải (phân ốc, thức ăn thừa, nhớt do ốc thải ra). Cả vụ ương nuôi không cần phải thay nước ao lần nào trừ khi có sự cố đặc biệt.

Thu hoạch ốc

Nếu ương nuôi tốt thì 20 ngày là có thể đưa ra ao để nuôi thành ốc thịt hay xuất bán ốc giống. Với ốc ương trong giai không cần phải tháo nước ao mà chỉ cần dồn ốc vào góc giai rồi dùng vợt mềm súc ốc hoặc cũng có thể mở các nút giai đưa cả giai ốc lên bờ rồi nhặt ốc giống. Đối với ốc ương nuôi trong bể thì cùng vợt vớt ốc sau đó tháo cạn nước bể và nhặt những con còn lại.

Tỷ lệ sống của ốc ương nuôi trong giai cũng như trong bể đều rất cao trên 80%. Cỡ ốc giống 0,4 - 0,5g/con.

Lưu ý

Vào mùa đông ở miền Bắc khi nhiệt độ xuống dưới 100C ốc sẽ chết, vì vậy cần phải có biện pháp trú đông cho ốc. Biện pháp trú đông cho ốc có hiệu quả nhất là đào bể ngầm, dưới mặt đất. Diện tích mỗi bể 2 - 4 m2, độ sâu của bể 0,6 m. Miệng bể làm cao hơn mặt đất 10 cm và được đậy bằng nắp tôn để ngăn gió, mưa và các động vật (chuột, rắn, chim, cò, ếch nhái,…) vào bể hại ốc. Khi đưa ốc vào trú đông cũng như đưa ốc ra ao sau thời gian trú đông, các thao tác phải nhẹ nhàng, tránh làm cho ốc long ruột, dập, sứt vỏ. Mật độ trú đông cho ốc là 250 con/m2 đối với ốc bố mẹ và 2.500 con/m2 đối với ốc giống. Trong thời gian trú đông không cần cho ốc ăn, chỉ cần giữ ẩm cho ốc, 5 - 7 ngày tưới nước vào bể ốc 1 lần (chỉ tưới cho ẩm, không tưới quá nhiều). Bằng phương pháp trú đông này, tỷ lệ sống của ốc đạt trên 70%

Ốc sống được rất lâu ngoài môi trường nước nên việc thu hoạch, vận chuyển cũng dễ dàng hơ. Trong quá trình thu hoạch cũng như vận chuyển chỉ cần chú ý giữ ẩm và tránh va chạm mạnh làm dập vỏ, long ruột ốc là ổn.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Saturday, April 25, 2015

Bệnh lạ hại gấc

Hiện nay, nhiều diện tích gấc trên địa bàn huyện Nam Sách (tỉnh Hải Dương) xuất hiện một số bệnh lạ gây hại, ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây gấc.


Triệu chứng:

Lúc đầu chỉ là những vết loang ướt hình nhẫn trên thân, cuống lá hoặc các chấm trên gân cấp 1 và cấp 2 của lá; búp ngọn, các chồi non đang nhú chuyển màu vàng nhạt. Sau đó, những vết nổ phình to và có chứa chất mềm dẻo màu nâu; búp ngọn và các chồi non chết héo màu vàng thâm. 

Đối tượng gây hại: 

Bóc tách và quan sát kỹ các bộ phận bị hại nhưng chưa khẳng định được rõ đối tượng gây hại. Có thể đây là các ổ bào tử của một loại nấm. 

Đặc điểm phát sinh và phá hại:

Phát sinh trên cây mọc từ mầm chồi của gốc cũ, có thân đang leo bò trên mặt giàn và chưa bị bệnh nấm sương mai giả gây hại. Hiện bệnh này đang lây lan nhanh, gây chết các búp ngọn, mầm non và tua cuốn.

Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:

Có thể do các yếu tố thời tiết diễn biến phức tạp và thất thường, nóng ẩm xen kẽ… nên bệnh bùng phát. Vì vậy, cần thăm giàn gấc thường xuyên. Nếu có triệu chứng thì cần dùng kéo sắc, nhẹ nhàng cắt bỏ những búp ngọn, mầm non bị bệnh và thu gom tiêu hủy. Tưới bổ sung urê và kali theo vành khăn cách gốc từ 80 - 100cm với lượng 30g đạm và 100g kali/lần/gốc; tưới làm 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 - 10 ngày, vào chiều mát. Dùng 1 gói thuốc Alpine 80WG loại 20g1 gói bám dính HPC loại 20ml pha với 8 lít nước, phun đẫm đều cho gấc. Phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 2 - 3 ngày, phun vào chiều mát. 

KS.Nguyễn Hữu Vân/ Báo Hải Dương

Friday, April 24, 2015

Rệp dính gây hại cây có múi

Cùng với việc mở rộng diện tích trồng cây có múi và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng nhiều, rệp dính Unaspis citri (Comstock) ngày càng gây hại nhiều hơn ở ĐBSCL. 

Rệp dính trên cây dừa

Trên cây có múi, rệp dính thường xuất hiện và tấn công trên thân chính và các nhánh cây. Mật số rệp dính cao và xảy ra trong thời gian dài làm vỏ thân cây bị khô nứt, vết nứt mở đường cho các dịch hại khác xâm nhập và gây hại cây. Sự tấn công của rệp dính làm giảm khả năng sinh trưởng, phát triển của cây. Trường hợp rệp gây hại nặng trên các nhánh nhỏ hoặc cây còn nhỏ có thể làm nhánh hoặc cả cây bị chết. 

Rệp dính cũng tấn công và gây hại trên lá và trái khi mật số cao làm giảm năng suất và chất lượng trái. Phân của chúng thải ra chứa nhiều dưỡng chất, nhất là đường, tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển trên thân, lá. Rệp dính còn truyền bệnh virus trên cây cam quýt. 

Ông Lê Văn Đậu, tổ hợp tác trồng cây ăn trái Đoàn Kết, xã Ba Trinh, huyện Kế Sách (Sóc Trăng) cho biết, rệp dính thường gây hại nặng ở những vườn trồng quá dày, kém thông thoáng, ít chăm sóc. Ngoài ra còn gây hại trên một số loại cây trồng khác như dừa, mít, ổi, chuối... Ở mật số cao, rệp dính khiến cây sinh trưởng kém, giảm năng suất và chất lượng của trái. 

Để phòng trừ hiệu quả rệp dính nhà vườn cần trồng ở mật độ hợp lý, thường xuyên cắt tỉa để vườn thông thoáng. Trong quá trình chăm sóc cây trồng, rệp dính có thể theo dụng cụ làm vườn, bám vào quần áo rồi lây lan từ vườn này sang vườn khác; do đó cần vệ sinh dụng cụ làm vườn, giặt kỹ quần áo sau khi chăm sóc ở vườn bị nhiễm rệp dính trước khi vào chăm sóc vườn chưa nhiễm. 

Khi có từ 5% trở lên số cây trong vườn bị nhiễm, có thể sử dụng dầu khoáng hoặc Clothianidin, Permethrin... để trừ. 

Trước khi phun thuốc bảo vệ thực vật nên phun nước rửa chén nhằm phá vỡ lớp sáp của rệp dính để thuốc đạt hiệu quả cao hơn. Khi phun cần phun kỹ vào các bộ phận của cây, đặc biệt là thân và cành cây. Trường hợp mật số rệp dính cao, chúng xếp thành nhiều lớp chồng lên nhau nên cần phun vài lần cho đến khi tất cả các lớp rệp dính bong ra khỏi cây. 

Cần lưu ý trừ rệp dính cả trên cây trồng chính và các cây ký chủ phụ để hiệu quả phòng trừ cao, hạn chế sự lây lan và tái phát trở lại.

Vũ Bá Quan/ nongnghiep.vn