This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Monday, April 20, 2015

Phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông

Triệu chứng và tác hại:

Bệnh thường xuất hiện gây hại trên lá thời kỳ đẻ nhánh được gọi là bệnh đạo ôn lá; bệnh gây hại ở thời kỳ trỗ bông phơi mà gọi là bệnh đạo ôn cổ bông. Đạo ôn cổ bông trên thân và cổ bông vết bệnh ban đầu cũng có màu xanh thẫm, sau chuyển sang nâu, do nấm tấn công vào mạch dẫn gây cản trở việc vận chuyển các chất dinh dưỡng nuôi lá, thân và hạt... làm cho thân dễ gãy, hạt lép, lửng. Trên hạt bệnh xảy ra vào giai đoạn trỗ, vết bệnh trên hạt cũng có dạng hình thoi, viền nâu, tâm có màu xám trắng.

Ảnh minh họa

Nếu bị bệnh đạo ôn nặng ở giai đoạn trỗ bông phơi màu nấm bệnh tấn công sẽ làm hạt thóc bị lép, lửng gây hiện tượng bông bạc, ảnh hưởng rất lớn tới năng suất và chất lượng.
Nguyên nhân: 

Do nấm Pyricularia oryzae Cav phát sinh gây hại. Bệnh được lan truyền bằng bào tử, bào tử của nấm đạo ôn có hình trái lê rất nhỏ. Vụ chiêm xuân bệnh thường phát sinh từ tháng 2 đến tháng 4 hằng năm; bệnh liên quan mật thiết đến điều kiện thời tiết, giống và chế độ chăm sóc, thời gian đẻ nhánh, trỗ bông phơi màu.

Nhiệt độ thích hợp cho bệnh phát sinh, phát triển là từ 16 - 28 độ C, nhiệt độ tối thích là từ 18 - 22 độ C, ẩm độ > 90% (trời âm u, mưa phùn, mưa nhỏ kéo dài là điều kiện thích hợp cho bệnh đạo ôn phát sinh, phát triển).

Các giống nhiễm là BC15, Q5, nếp, BT7...; các ruộng chăm bón không cân đối, bón nhiều đạm, bón đạm lai rai thường bị bệnh nặng.

Khi lúa trỗ bông, phơi màu gặp điều kiện thời tiết âm u, có mưa phùn, mưa nhỏ kéo dài bệnh thường phát sinh gây hại cổ bông.

Ngoài nguyên nhân do thời tiết, giống nhiễm làm cho bệnh phát sinh gây hại nặng thì trong thời gian qua việc tổ chức phòng trừ bệnh đạo ôn lá của nông dân thường bị muộn (khi bệnh nặng mới trừ) nên hiệu quả thấp. Dự báo trong thời gian tới khi lúa trỗ bông, phơi màu có khả năng sẽ gặp không khí lạnh gây mưa phùn, mưa nhỏ tạo thuận lợi cho bệnh đạo ôn cổ bông phát sinh gây hại.

Để giúp nông dân phòng trừ tốt bệnh đạo ôn cổ bông, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh hướng dẫn biện pháp phòng trừ như sau:

- Theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là chương trình dự báo thời tiết của báo, đài, kết hợp với thăm đồng để chủ động phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông khi lúa trỗ bông, phơi màu.

- Chú ý trên các giống nhiễm, trên những diện tích đã nhiễm bệnh đạo ôn lá và cả trên những diện tích không nhiễm bệnh đạo ôn lá đều cần phải chú ý và chủ động phòng trừ khi lúa trỗ bông, phơi màu gặp điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh.

- Điều tiết nước từ 2 - 5cm để giúp cây lúa trỗ bông, phơi màu được thuận lợi và tăng hiệu lực của thuốc.

- Khi lúa trỗ bông, phơi màu gặp điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh thì phải tiến hành phòng trừ. Thời gian phun thích hợp khi lúa nứt ne đòng báo trỗ; trên diện tích lúa đã bị bệnh đạo ôn lá phải tiến hành phun kép; phun 1 lần khi lúa nứt ne đòng, phun lần 2 khi lúa trỗ thoát hoàn toàn (lần 2 cách lần 1 từ 5 - 7 ngày), có thể lựa chọn 1 trong các loại thuốc đặc hiệu sau: Beam 75WP, Bump 650 WP, Katana 20 SS, Fu - Army 40 EC...

Chú ý khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

- Từ khi lúa trỗ bông đến trước khi thu hoạch cần chú ý rầy nâu. Nếu mật độ rầy cao, đến ngưỡng (từ 2.000 con/m2 trở lên ở giai đoạn trỗ đến trỗ thoát) có thể kết hợp một trong những loại thuốc đặc hiệu như: Penalty Gold 50EC, Winter 635EC, Chatot 600 WG... để phòng trừ rầy nâu. Liều lượng các loại thuốc phải giữ nguyên theo hướng dẫn để hạn chế công phun.

- Khi sử dụng thuốc phải đọc kỹ hướng dẫn sử dụng, chấp hành nguyên tắc "4 đúng". Nên phun vào sáng sớm và chiều mát, tránh phun khi lúa trỗ bông, phơi màu. Sau phun thuốc gặp mưa rào, mưa lớn cần phải phun lại. Phun đúng nồng độ khuyến cáo, phun ướt đều trên lá...

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Hải Dương


Sunday, April 19, 2015

Bệnh lem lép hạt lúa

Lem lép hạt là thuật ngữ chung để chỉ triệu chứng hạt lúa bị lép, lửng không cho năng suất. Biểu hiện 3 dạng là lép trắng, lép xanh và lép đen. 

Triệu chứng lép đen trên lúa Khang Dân 18 vụ HT 2014 tại Nghệ An

“Lép trắng” là hiện tượng hạt lép màu trắng khi mới trỗ ra. Nguyên nhân chính của lép trắng là do tế bào mẹ hạt phấn không được hình thành, vỏ trấu không được silic hóa và không hình thành chất diệp lục. Nên khi lúa trỗ thấy những hạt lép màu trắng, thực tế là hoa đó không được hình thành đầy đủ. 

“Lép xanh” là hiện tượng có 2 nguyên nhân, trỗ ra đã lép sẵn do quá trình hoàn thành hạt phấn gặp sự cố, tuy vỏ trấu đã hình thành chất diệp lục, nhưng hoa không hoàn thiện. Nên khi trỗ ra vẫn thấy màu xanh. Hoặc do điều kiện bất lợi hoa không thụ phấn, thụ tinh được và hạt không được hình thành. 

“Lép đen” là hiện tượng hạt lép có màu đen, nâu đen, do tác nhân bên ngoài như nấm bệnh, vi khuẩn và cả nhện gié. Người ta thường gọi là “bệnh đen lép hạt”, có thể do nhiều đối tượng nấm bệnh, vi khuẩn khác nhau gây nên. 

Lem lép hạt lúa gây thiệt hại năng suất rất lớn, có thể lên đến trên 70% năng suất. Thực tế 1 khóm lúa có 5 - 7 dảnh, có thể 10 - 15 dảnh hoặc cao hơn. Mỗi bông có khoảng 200 - 350 hạt, trọng lượng trung bình 1.000 hạt các giống lúa lai > 25 gram, lúa thuần > 20 gram

Nếu mỗi bông lúa có 200 hạt chắc, mỗi khóm lúa có 7 bông, thì năng suất lúa thuần sẽ đạt hơn 11 tấn/ha, lúa lai sẽ đạt hơn 14 tấn/ha. Song thực tế chỉ đạt tối đa khoảng 2/3 năng suất đó. 

3 yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa giai đoạn đòng - trỗ: Dảnh vô hiệu, lem lép hạt, bộ lá đòng. Cả 3 yếu tố đều dẫn đến lép, lửng hạt. 

+ Hạn chế tối đa dảnh vô hiệu: Dảnh vô hiệu là các dảnh không cho bông, hoặc cho bông nhưng trỗ sau và chín muộn không cho năng suất. Dảnh vô hiệu được sinh ra do bón phân sai khoa học và điều tiết nước. 

Trong điều kiện ruộng có nước, bón nhiều phân đạm và lân giai đoạn cuối đẻ nhánh, thúc đòng quá sớm, sẽ kích thích bộ lá và rễ phát triển. Bón đạm làm bộ lá xanh non, chồi non là nơi tổng hợp auxin, là chất kích thích ra rễ. 

Mặt khác lân có tác dụng kích thích rễ phát triển, rễ là nơi tổng hợp cytokinin, là chất làm trẻ hóa tế bào. Vì vậy làm cây lúa đẻ thêm các dảnh vô hiệu. 

Ngoài ra có thể hạn chế số dảnh bằng việc cắt nước cuối đẻ nhánh đến lúc lúa phân hóa đòng nếu điều kiện thủy lợi cho phép. 

+ Hạn chế lem lép hạt: Bộ lá lúa xanh non, dảnh vô hiệu nhiều, ảnh hướng đến quá trình tổng hợp Giberelin (GA), là chất kích thích phân hóa mầm hoa, nếu thiếu nó có thể dẫn đến lép trắng và lép xanh. Vì GA giai đoạn này được tổng hợp chủ yếu từ các lá bánh tẻ (bộ lá đòng). 

Do đó cần bón đón đòng và điều tiết nước hợp lý. Thời gian bón đón đòng tốt nhất là ở bước thứ 2 của quá trình phân hóa đòng (hình thành gié cấp 1). Tuy nhiên người nông dân sẽ khó biết đâu là bước thứ 2

Có một kinh nghiệm thực tế giúp nhận diện như sau: Khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng, bộ lá chuyển vàng sáng, tròn mình. Bước 2 là lúc mắt lá cờ (lá cạnh bông sau này) trùng với mắt lá kế bên hoặc bóc dảnh lúa ra và thấy cây lúa có thân thật, trên đỉnh thân bắt đầu có phần lông trắng. 

Nếu phải phòng trừ các bệnh như khô vằn, vàng lá, thối thân thì nên chọn các thuốc thuộc nhóm Triazole như Anvil 5SC, Nevo 330EC… vì ngoài phòng trừ bệnh, còn có cơ chế ức chế sinh trưởng ngọn (không dùng nhóm này cho cây họ bầu bí), giúp kìm hãm tổng hợp auxin. 

Bảo vệ bộ lá đòng: Bộ lá đòng bao gồm 4 lá trên cùng là bộ lá quyết định năng suất lúa. Khi cây lúa phân hóa đòng, bộ lá đòng được cố định, lúc này cây lúa không thể mọc thêm được lá nào nữa. 

Bộ lá đòng cần phải khỏe, đứng, sạch bệnh để tăng hiệu suất quang hợp và hạn chế tối đa việc tích lũy nguồn bệnh và lây lan sang hạt gây nên lép xanh và lép đen. 

Phòng trừ, cắt nguồn bệnh tích lũy gây ra lép hạt và bảo vệ bộ lá đòng bằng các thuốc như Anvil 5SC (0,8 lít/ha) giai đoạn cuối đẻ nhánh, Nevo 330EC (0,3 - 0,4 lít/ha) giai đoạn từ làm đòng - trước trỗ, sau trỗ 1 tuần. 

Nếu có áp lực đạo ôn, trước trỗ có thể dùng Amistar Top 325SC (0,4 lít/ha) để phòng đạo ôn cổ bông, cả khô vằn, vàng lá, lem lép hạt.

ThS Phan Anh Thế/ nongnghiep.vn

Thursday, April 16, 2015

Tôm thẻ chân trắng 'hai thấp, hai cao'

Đảm bảo được một số yếu tố chất lượng nước quan trọng sẽ góp phần chủ động quản lý sức khỏe tôm nuôi, đặc biệt trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay.

Độ mặn thấp

Tôm nuôi ở độ mặn cao dễ bị dịch bệnh, nhất là các virus đốm trắng, đầu vàng, vi khuẩn phát sáng và bệnh EMS. Tôm nuôi ở độ mặn thấp có hiệu quả rõ rệt trong việc kiểm soát vi khuẩn Vibrio trong nước. Vì vậy, một trong những xu hướng nuôi tôm an toàn hiện nay là nuôi tôm với độ mặn thấp (< 10‰). So với tôm sú thì tôm thẻ chân trắng thích nghi độ mặn thấp hơn. Tôm thẻ chân trắng được nuôi ở độ mặn thấp (5 - 15‰) sẽ tăng trưởng nhanh hơn ở độ mặn cao. Đó là do ở độ mặn thấp sự trao đổi chất (protein) trong cơ thể tôm tốt hơn và khi độ mặn thấp thì tôm bị bắt buộc sử dụng tổng acid amin tự do để bù vào sự thay đổi thể tích tế bào. Tuy nhiên, khi áp dụng nuôi tôm ở độ mặn thấp cần có một số lưu ý đặc biệt trong quá trình ương nuôi. Thứ nhất, khi mới bắt đầu đưa vào nuôi, cần hạ độ mặn từ từ, tránh gây sốc cho tôm nuôi. Trong tháng đầu tiên nên duy trì độ mặn không  thấp hơn 7 - 8‰, sang tháng thứ 2 nên duy trì độ mặn không thấp hơn 5‰. Và một lưu ý hết sức quan trọng, khi nuôi ở độ mặn thấp các ion Ca++, Mg++, Na+, K+… sẽ thấp nên quá trình lột xác xảy ra không đồng đều, tôm sẽ bị mềm vỏ sau khi lột xác, dễ bị tôm khác tấn công, ăn thịt, tỷ lệ hao hụt cao. Vậy bổ sung định kỳ hàm lượng khoáng vào ao nuôi và trộn Vitamin C vào thức ăn với liều lượng 60 mg/kg thức ăn cho ăn hằng ngày.

Kiểm tra tôm nuôi - Ảnh: Thanh Nhã 

Mật độ thấp

Tôm nuôi ở mật độ thấp có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tôm nuôi ở mật độ cao. Theo kết quả nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Giống hải sản miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, khi nuôi tôm thẻ chân trắng giống sạch bệnh, bể composite trong nhà, môi trường nuôi tương đồng nhau với những mật độ 40 con, 60 con, 80 con cho những kết quả nuôi khác nhau. Tỷ lệ phân đàn về khối lượng của tôm sau khi thu hoạch nuôi tương ứng mật độ lần lượt: 7,27%; 8,22%; 12,9%. Tỷ lệ sống đạt lần lượt: 79,7%; 78,7%; 70,3%. Hệ số chuyển đổi thức ăn cũng bị ảnh hưởng với các mật độ như trên hệ số chuyển đổi thức ăn lần lượt là 1,39; 1,44; 1,47. Trong điều kiện nghiên cứu cho tôm ăn theo nhu cầu, không có ảnh hưởng của sự cạnh tranh thức ăn. Như vậy, theo kết quả nghiên cứu, mật độ nuôi ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi tôm thương phẩm. Nuôi với mật độ càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng chậm, tỷ lệ sống càng thấp, tỷ lệ phân đàn và hệ số chuyển đổi thức ăn cao. Nguyên nhân dẫn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm giảm khi nuôi với mật độ cao là do mức độ stress của tôm nuôi. Khi nuôi tôm với mật độ càng cao thì mức stress của tôm càng nặng. Cần phải tính toán kỹ mật độ tôm thả nuôi tùy theo điều kiện chăm sóc.

Độ kiềm cao

Độ kiềm ảnh hưởng gián tiếp lên năng suất sinh học sơ cấp trong ao. Khi độ kiềm thấp, một vài thành phần hóa học cần thiết cho sự phát triển của vi tảo sẽ bị thiếu. Bicarbonat là dạng chính của độ kiềm. Trong ao nuôi tôm thẻ chân trắng, độ kiềm không được thấp hơn 80 mg/l CaCO3 để đảm bảo cho tôm tăng trưởng và tỷ lệ sống cao. Khi độ kiềm thấp, pH sẽ biến động và gây stress, giảm tăng trưởng và thậm chí gây chết tôm. Độ kiềm thấp có thể do nguồn nước có độ kiềm thấp hoặc có sự hiện diện của động vật thân mềm hai mảnh vỏ trong ao, chúng hấp thụ muối carbonat và lọc hết tảo làm thức ăn, kết quả là làm nước trong và có độ kiềm rất thấp. Natri bicarbonat (NaHCO3) và vôi tôi Ca(OH)2 là những hóa chất được khuyến cáo để nâng cao độ kiềm trong ao. Mặc dù vôi tôi được sử dụng phổ biến, việc sử dụng cân bằng nguồn thức ăn cũng có thể làm tăng độ kiềm do tăng hàm lượng ion carbonat.

Ôxy cao

Các thống kê sơ bộ chỉ ra rằng phần lớn các ao nuôi có tần suất thành công cao trong thời gian vừa qua đều cung cấp ôxy rất tốt, quản lý nồng độ ôxy có hiệu quả. Hàm lượng ôxy hòa tan thấp khiến tôm ăn ít và ăn chậm, dẫn đến hiện tượng thừa thức ăn, ô nhiễm nguồn nước. Với hàm lượng ôxy thấp hơn 2 mg/l sau 1 tiếng tôm ăn lượng thức ăn thừa khoảng 45%. Hàm lượng ôxy thấp dẫn đến hệ số chuyển hóa thức ăn cao, tôm chậm lớn, dễ cảm nhiễm bệnh do vi khuẩn đặc biệt là các bệnh phân trắng, tỷ lệ sống thấp, tăng trưởng chậm. Trong ao nuôi 4 ppm là hàm lượng ôxy cần thiết để tôm hoạt động bình thường, môi trường ổn định, tôm tăng trưởng tốt. Hiện có nhiều thiết bị cung cấp ôxy trong ao nuôi tôm: quạt nước, các đĩa hoặc ống aero tube, cung cấp ôxy đáy, quạt nước truyền thống, quạt lông nhím. Cần bố trí, quản lý thích hợp hàm lượng ôxy hòa tan để đảm bảo cho quá trình nuôi hiệu quả. 

Kiểm soát chất lượng nước là yếu tố quan trọng. Chất lượng nước không ổn định ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất và tiến trình sinh lý khác của vật nuôi, làm chậm tăng trưởng, tăng stress, dẫn đến mẫn cảm với bệnh tật, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng.

Nhật Minh/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm

Tại ĐBSCL, cá lóc đầu nhím được nuôi phổ biến, đem lại thu nhập tốt cho người nuôi. Trước tốc độ phát triển nhanh và mạnh của đối tượng này, TSVN chọn giới thiệu quy trình nuôi cá lóc đầu nhím thương phẩm hiệu quả.

Chuẩn bị ao nuôi

Diện tích ao nuôi tùy thuộc vào điều kiện của cơ sở, tuy nhiên thích hợp nhất là khoảng 1.000 - 5.000 m2 vì nếu diện tích ao quá lớn thì rất khó quản lý. Độ sâu ao nuôi lớn hơn 2 m, một số hộ nuôi có thể có thể tận dụng ao nuôi cá tra để nuôi nên độ sâu có thể lên đến 3,5 - 5 m. Trong ao, nên chuẩn bị 1 cái vèo có diện tích bằng khoảng 1/10 - 1/5 diện tích ao nuôi và đặt cách bờ khoảng 3 - 5 m, làm 1 cái cầu bằng gỗ để đi từ bờ ra vèo.

Sau khi đã chuẩn bị ao sạch sẽ thì cấp nước vào, bơm nước vào đầy ao qua lưới lọc để tránh cá tạp và địch hại vào ao ăn cá. Gây màu nước bằng hỗn hợp cám gạo (1 kg) + bột đậu nành (1 kg) hòa với nước ngâm qua đêm tạt đều cho 1.000 m2. Ngày tạt 2 lần, tối ngâm thì sáng tạt, sáng ngâm thì chiều (16 - 17 h) tạt. Hoặc tạt trực tiếp xuống ao 2 kg thức ăn cá công nghiệp dạng bột cho 1.000 m2 ao.

Thả giống

Chọn con giống đồng đều về kích cỡ, khỏe mạnh, màu sắc sáng đẹp, thân hình cân đối, không mang các dấu hiệu nhiễm bệnh. Tốt hơn hết người dân nên chọn mua tại các cơ sở sản xuất uy tín.

Tùy thuộc vào kỹ thuật của người nuôi mà tiến hành nuôi với mật độ thưa hay dày. Thường cá lóc giống được bắt về có kích thước lồng 4 - 6 cm và thả nuôi với mật độ 50 - 100 con/m2.

Người dân nên mua cá giống ở các cơ sở uy tín - Ảnh: Lê Hoàng Vũ 

Giống được thả vào vèo, do giai đoạn này cá còn nhỏ mình nuôi trong vèo dễ cho việc chăm sóc và quản lý hơn. Sau khi nuôi khoảng 2 tháng, cá đạt trong  lượng khoảng 100 - 180 g/con thì chúng ta tiến hành lọc lại cá và cho ra khỏi vèo, còn lại những con nhỏ quá mình có thể chuyển sang 1 ao nhỏ khác, làm thế này thì lúc thu hoạch cá của chúng ta sẽ đồng đều hơn.

Cho ăn 

Hiện nay cá lóc nuôi cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp có hiện tượng phổ biến là cá bị gù dao động 4 - 40% (gồm cá bị gãy xương, gãy lưng), loại cá này giá bán thấp hơn so với cá bình thường khoảng 10.000 đồng/kg. Mặc dù chưa có nghiên cứu nào nói về nguyên nhân cá bị gù. Tuy nhiên, đa số người dân nuôi cá lóc thì cho rằng là do dùng thức ăn công nghiệp. Do đó khi chọn thức ăn công nghiệp cho cá chúng ta phải cẩn trọng, phải chọn loại thức ăn có người nuôi đã từng dùng và tỉ lệ gù không quá 5% thì có thể chấp nhận được.

Một kinh nghiệm quan trọng để phòng bệnh gù là trong giai đoạn đầu từ khi thả giống đến giai đoạn 2 tháng chúng ta cho cá ăn hỗn hợp thức ăn công nghiệp và cá biển. Cách cho ăn là xay cá biển nhỏ trộn với thức ăn viên với tỷ lệ 4kg cá biển trộn với 1 kg thức ăn viên. Sau đó rải từ từ trên sàng ăn, ở đây chúng ta cho ăn theo nhu cầu của cá, khi nào thấy cá bắt mồi hơi yếu thì ta ngưng cho ăn là vừa, tránh để thức ăn dư gây ô nhiễm nguồn nước.

Sau 2 tháng nuôi nếu nguồn cá biển giá còn rẻ và có đủ nhân công để cho ăn thì chúng ta vẫn nên nuôi kết hợp 2 loại thức ăn này. Nếu không đáp ứng được điều kiện trên thì chúng ta chuyển cho ăn hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp.

Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá, mức độ sử dụng thức ăn để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Để duy trì chất lượng nước nuôi, khoảng 7 ngày chúng ta thay nước khoảng 20 - 30% hoặc cấp nước thêm cho ao. Định kỳ (10 ngày/lần) dùng vôi bột hòa với nước tạt đều khắp ao để diệt mầm bệnh, liều lượng từ 2 - 3 kg vôi bột/100 m2.

Thu hoạch

Sau khoảng 5 - 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân khoảng 400 - 600g/con chúng ta có thể thu hoạch, tỉ lệ sống trung bình đạt khảng 80%, đối với thức ăn công nghiệp hệ số chuyển đổi thức ăn FCR khoảng 1,2 - 1,4 kg thức ăn/kg cá cá tùy thuộc vào loại thức ăn và kỹ thuật của người nuôi. 

Hiện tại chưa thấy tài liệu nào phân loại cá lóc đầu nhím. Theo một số tài liệu thì cá lóc đầu nhím là cá lóc được lai giữa cá lóc môi trề (Channa SP) và cá lóc đen (Channa stritus) .

Thạc sĩ Nguyễn Gia Hiển (Đại học Đồng Tháp)/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam


Một loài sâu mới xuất hiện và gây hại trên trái dừa

Vừa qua, ông Bùi Thế Sương, ở ấp Bình Đông 1, xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã phát hiện một loài sâu hại mới gây hại trên trái dừa, làm hư trái hàng loạt.


Ngay khi nhận được thông tin về loài sâu hại này, cán bộ Chi cục Bảo vệ thực vật và Trạm Bảo vệ thực vật huyện Mỏ Cày Nam đã nhanh chóng đến vườn nông dân kiểm tra, xác định vùng gây hại, mật số gây hại.

Đây là loài sâu thuộc Bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Sâu non có kích thước to, màu nâu xám, dài khoảng 4cm, thân mình có nhiều lông dài. Sâu non đục lỗ tròn (khoảng bằng đầu đũa ăn) trên trái dừa và chui vào bên trong ăn phần xơ và gáo. Sâu gây hại trái dừa non bằng trái cau đến trái lớn khoảng 10cm. Tốc độ cắn phá rất nhanh. Khác với sâu đục trái dừa, loài sâu này không sống trong trái, chỉ đục lỗ vào bên trong ăn phá và chui ra ngoài. Sâu đẫy sức, kéo những nhen dừa hoặc phân khô kết kén và làm nhộng bên trong kén. Quan sát vườn nhà ông với diện tích 1,4ha trồng nhiều giống dừa nhưng chỉ thấy sâu gây hại trên 1 cây dừa xiêm xanh (3 năm tuổi), những vườn chung quanh cũng không thấy loài sâu này gây hại.

Chi cục Bảo vệ thực vật đã gửi mẫu về Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam để định danh. Trong khi chờ đợi kết quả giám định, nếu bà con nông dân có phát hiện loài sâu hại mới này gây hại trên cây dừa nên báo ngay với cán bộ kỹ thuật các trạm bảo vệ thực vật gần nhất để kiểm tra và có hướng khoanh vùng phòng trị kịp thời, hạn chế phát tán lây lan trên diện rộng, ảnh hưởng đến năng suất dừa.

Nguyễn Thị Nguyệt/ Báo Đồng Khởi


Wednesday, April 15, 2015

Phòng trừ bọ nhảy hại rau

Bọ nhảy hai sọc trưởng thành ăn vào lá rau tạo ra những lỗ tròn nhỏ khắp mặt lá, khi mật độ cao có thể ăn hết cả gân lá, làm cho lá rau xơ xác.


Sâu non phá hại rễ cây làm thối gốc, thối củ, cây dễ bị héo chết.

Qua theo dõi một số vùng chuyên canh rau bị bọ nhảy gây hại mạnh, người trồng rau liên tục phải phun thuốc 2-3 ngày/lần để hạn chế sự gây hại của chúng, nhất là loại rau cải. Người tiêu dùng có thể bị ngộ độc do còn nhiều dư lượng thuốc trừ sâu trên rau. Để phòng trừ bọ nhảy hai sọc hiệu quả và an toàn cho người sử dụng, xin chia sẻ một số kinh nghiệm sau:

- Bón phân cân đối cho rau bảo đảm rau đủ dinh dưỡng, phát triển thuận lợi. Chú ý với phân chuồng mục và các loại phân trung vi lượng giàu can xi. 

- Thu dọn tàn dư và xử lý đất trước khi trồng bằng vôi tả 20- 30kg/sào hoặc thuốc hóa học như Diaphos 10G, Sago-Super 3G, Vibasu 5H, Sargent 6G... theo nồng độ và liều lượng khuyến cáo trên bao bì để diệt trứng và sâu non dưới đất.

- Luân canh với các cây trồng khác họ (hành, tỏi, dưa, bầu, bí, ớt...) để cắt đứt vòng chu chuyển của bọ nhảy.

- Sử dụng thuốc hóa học phun trừ một cách an toàn và hiệu quả:

+ Lựa chọn thời điểm phun thích hợp: Bọ nhảy hai sọc thường gây hại vào sáng sớm và chiều mát. Vì vậy, nên chọn 2 thời điểm này phun thuốc là thích hợp nhất. Tuy nhiên, cần phải căn cứ vào diễn biến của thời tiết mà phun trừ cho hiệu quả nhất. Tốt nhất chọn thời điểm buổi chiều mát (trời đã tắt nắng) phun thuốc sẽ cho hiệu quả cao hơn.

+  Căn cứ vào độ ẩm của đất trồng (độ ẩm luống rau): Nông dân cần kiểm tra độ ẩm đất dưới luống rau rồi mới tiến hành phun thuốc. Nếu đất dưới luống rau bị khô (ẩm độ ≤ 80%) cần tưới nước cho rau vào buổi sáng để bọ nhảy trưởng thành bay hết lên mặt lá, cây rau, đợi đến chiều mát mới phun thuốc.

+  Cách thức phun: Nếu chỉ đơn thuần phun lần lượt từng luống như phun trừ các loại sâu hại khác thì không có tác dụng vì bọ nhảy có khả năng nhảy xa và bay khỏe, sẽ dễ dàng phân tán ra các luống hoặc ruộng khác xung quanh, khi hết hơi thuốc sẽ quay lại gây hại. Do đó, bắt buộc khi phun phải đi theo đường vòng xuyến dồn bọ nhảy vào tâm giữa ruộng. Có như vậy, bọ nhảy mới trúng thuốc và chết hàng loạt.

+ Thay đổi thuốc thường xuyên và lựa chọn thuốc an toàn, hiệu quả: Bọ nhảy có khả năng kháng thuốc rất cao nên phải luân phiên các loại thuốc giữa các lần phun trừ. Có thể sử dụng luân phiên các loại thuốc như Polytrin, Match, Bamectin, Diaphos, Biocin, Vibasu, Olong, Sherzol, Hopsan, Success…

+ Tuân thủ thời gian cách ly của thuốc: Tùy theo từng độ độc khác nhau mà thời gian cách ly tối thiểu phải từ 3-10 ngày, thậm chí 15 ngày mới được thu hoạch.

Thuốc gốc lân hữu cơ có tác dụng cao hơn thuốc gốc clo, thuốc sinh học an toàn hơn thuốc hóa học.

+ Khi thu hoạch nên để lại một diện tích nhỏ ở giữa ruộng để tập trung bọ nhảy vào đó rồi phun thuốc sẽ hạn chế mật độ cho các vụ sau.

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách)/ Báo Hải Dương

Tuesday, April 14, 2015

Kỹ thuật chăm sóc cây ca cao (Video)

Những năm gần đây, cây ca cao đang mất dần vị thế của một cây công nghiệp trồng xen, giúp tăng thu nhập cho nhà vườn ở ĐBSCL. Từ năm 2012 - 2013, diện tích ca cao bị đốn bỏ để thay vào bằng loại cây trồng khác là rất lớn, toàn dùng chỉ còn lại khoảng 50% diện tích ban đầu...


Xem video chương trình "Khoa học nông nghiệp: Kỹ thuật chăm sóc cây ca cao" được thực hiện bởi THVL:


Khắc phục lúa xuân bị vàng lá sinh lý

Hiện nay, đa số diện tích lúa chiêm xuân ở các địa phương đã bắt đầu bước vào giai đoạn phân hóa đòng, cây lúa khỏe mạnh và dự kiến sẽ trỗ tập trung trong nửa đầu tháng 5.

Nông dân thôn La Đôi, xã Hợp Tiến (Nam Sách, Hải Dương) nhổ một dảnh lúa xuân bị vàng lá sinh lý

Tuy nhiên, một số diện tích đang bị bệnh vàng lá sinh lý khiến bà con nông dân lo lắng và cho rằng bệnh đạo ôn gây hại nên muốn mua thuốc phun trừ.

Triệu chứng:

Cây lúa có nửa cuối của 1 hoặc cả 2 lá gần nõn chuyển màu vàng và phần chóp bị khô trắng. Bộ rễ không đen nhưng kém phát triển, thấp cây và lá ngắn - biểu hiện đặc trưng của đói dinh dưỡng. 

Đặc điểm và nguyên nhân:

Phát sinh đều cả ruộng, từng đám hoặc theo mặt luống hành cũ và chủ yếu tập trung trên các giống ngắn ngày như BTS7, tám xoan ĐB, KM18... thuộc những chân ruộng đang bị khô, vốn dĩ không có điều kiện chăm bón kịp thời về dinh dưỡng và nước hoặc mất chủ động về tưới tiêu. Triệu chứng diễn ra sau khi có bệnh đạo ôn mãn tính trên địa bàn và những hình ảnh về thiệt hại của bệnh đạo ôn qua các phương tiện thông tin đại chúng, loại bệnh nguy hiểm mà lâu nay mới gặp lại. Triệu chứng này do các yếu tố thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp và thất thường, biên độ nhiệt ngày đêm lớn, trong khi cây lúa đang ở giai đoạn mẫn cảm cao với sự bất thuận của thời tiết và dinh dưỡng. 

Biện pháp khắc phục:

Đề nghị các địa phương, các cơ quan chuyên môn cần tăng cường công tác tuyên truyền tập huấn để bà con nông dân nhận diện được triệu chứng của bệnh vàng lá sinh lý. Từ đó có các tác động tích cực theo phương châm đáp ứng đầy đủ và kịp thời các yếu tố dinh dưỡng. Cụ thể: Bơm đủ nước vào ruộng, sau đó tùy theo mức độ diện tích vàng ít hay nhiều mà rắc liền tay mỗi sào 1 - 2kg urê và 2 - 3 kg kali clorua, bảo đảm lượng nước thường xuyên trong ruộng ở mức từ 2 - 3 cm cho đến khi trỗ thoát. Đồng thời, dùng phân bón lá cao cấp đầu trâu 502 hoặc phân bón qua lá Kb99 sông Gianh, loại gói 10 g; lượng dùng, pha 1 gói với 12 lít nước phun đều cho từ 6 - 8 thước ruộng.

Chú ý: Phun 2 lần, lần 2 sau lần 1 từ 3 - 4 ngày, phun vào chiều mát, lúc không mưa.

KS. Nguyễn Hữu Vân/ Báo Hải Dương

Monday, April 13, 2015

Cá nhụ bốn râu

Cá nhụ không xa lạ gì với người miền Bắc bởi từ xa xưa nó đã được xếp vào nhóm cá biển đặc sản thuộc hàng tứ phẩm "chim, thu, nhụ, đé".

Cá nhụ bốn râu hay còn là cá gộc (Eleutheronema tetradactylum), tên tiếng Anh là Fourfinger threadfin là loài lớn nhất trong các loài cá nhụ. Cá có thân dài, dẹt bên. Chiều dài thân bằng 3,7 - 4,4 lần chiều cao. Đầu ngắn, mắt to, có màng mỡ hình bầu dục rất phát triển. Lưng màu xám nhạt, bụng màu trắng xám, có bốn râu. Các màng vây của cá có màu vàng sặc sỡ. Xương lá mía với các tấm răng sớm rụng ở cả hai phía ngoại trừ ở cá con. Phần sau của hàm trên sâu, chiếm 3 - 4% chiều dài chuẩn. Phần mở rộng tấm răng ngắn vào mặt bên của hàm dưới, chiếm 7 - 9% chiều dài chuẩn. Cá nhụ bốn râu là loài cá lớn, có chiều dài trung bình khi trưởng thành 50 - 70 cm, nặng 5 - 7 kg, lớn nhất có thể dài đến 200 m và nặng tới 145 kg. Cá nhụ bốn râu là loài rộng muối (sống được cả trong môi trường nước lợ lẫn nước biển), là loài cá dữ, thức ăn chính gồm các loài cá nhỏ, tôm, cua. Sinh trưởng nhanh. Đây là loài cá lưỡng tính có các sản phẩm sinh dục đực chín trước.


Cá phân bố ở khu vực nhiệt đới từ Ba Tư đến Papua New Guinea và dọc theo ven bờ biển tây Ấn Độ Dương, Ấn Độ, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Trung Quốc, phía bắc Australia và Việt Nam. Cá nhụ bốn râu được nuôi nhiều ở Trung Quốc, Đài Loan, Philippines... Ở Việt Nam, cá nhụ bốn râu phân bố ở các vùng biển Vịnh Bắc bộ, miền Trung và Nam bộ. Trong tự nhiên, do khai thác quá mức nên nguồn lợi cá nhụ bốn râu đang bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện, cá đã được xếp vào Sách Đỏ của Việt Nam.

Cá nhụ bốn râu là một trong bốn loài cá quý, được ưa thích trên thị trường và là một trong những đối tượng mới được lựa chọn cho mục tiêu đa dạng hóa các đối tượng nuôi biển. Cá có thể nuôi được với nhiều hình thức khác nhau như nuôi trong ao đất, lồng bè và các đầm nước lợ hoặc tận dụng các ao đầm nuôi tôm sau khi dịch bệnh. Điều kiện thích hợp để phát triển nuôi thương phẩm loài cá này là những nơi có độ mặn 20 - 30%, pH 7,5 - 8,5, hàm lượng ôxy hòa tan > 5 mg/lít. Mật độ nuôi trong ao, đầm khoảng 1 - 1,5 con/m2, trong lồng 9 - 12 con/m3. Cá nhụ bốn râu nuôi thương phẩm cho ăn thức ăn công nghiệp và thức ăn tươi đạt tỷ lệ sống, sức sinh trưởng tương đương nhau, vì vậy trong quá trình nuôi tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc mà có thể sử dụng tùy loại. Khi nuôi cho cá ăn với khẩu phần 4 - 5 %. Cá nhụ bốn râu là loài ưa sống sạch nên trong quá trình nuôi với hình thức nuôi ao, định kỳ 10 ngày thay nước một lần, mỗi lần thay 100% lượng nước trong ao là tốt nhất. Cá nhụ 4 râu là loại cá có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, cá giống có kích thước 1,5 - 2 g/con, nuôi trong thời gian 18 - 20 tháng cá đạt kích cỡ thương phẩm 1.200 - 1.500 g/con. Tỷ lệ sống đạt trên 70%. Nuôi cá nhụ bốn râu cho năng suất cao, hình thức nuôi trong ao đạt 4.720 - 4.940 kg/ha/vụ, nuôi lồng đạt khoảng 14,75 kg/m3 lồng/vụ. Cá có khả năng thích nghi được trong điều kiện mùa đông miền Bắc nên trong quá trình nuôi không bị phụ thuộc vào mùa vụ.

Nguồn cung cấp giống cá nhụ bốn râu trước kia là khai thác ngoài tự nhiên và nhập giống từ Đài Loan. Từ năm 2013 đến nay, cá nhụ bốn râu được sinh sản nhân tạo tại Trung tâm quốc gia Giống hải sản miền Bắc (thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I). 

Cá nhụ bốn râu được nghiên cứu ở Trung tâm Quốc gia giống Hải sản miền Bắc từ năm 2009; Năm 2013, Trung tâm đã nghiên cứu thành công quy trình sản xuất giống nhân tạo và tới nay đã hoàn thiện các quy trình nuôi thương phẩm.

Nhung Nguyễn/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam