This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Monday, October 12, 2015

Đã định danh loài chân đốt (siêu nhân) gây hại rau tại Đà Lạt

Từ năm 2013 đến nay các vùng rau tại Đà Lạt xuất hiện loài chân khớp "lạ" được người dân gọi là "siêu nhân". Đây là đối tượng gây hại khá nghiêm trọng cho nhiều cây rau, hoa, dâu tây. Do đây là đối tượng gây hại mới, không thuộc các nhóm sâu hại thông thường nên Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng lấy mẫu và gửi Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật giám định tên khoa học.


Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giám định tên khoa học là loài Scutigerella immaculata Newport

  A                                B                                 C

Hình 1. Rết vườn ở Đà Lạt - Con trưởng thành (A, B, C)


D                              E                           F

Hình 2: Rết vườn ở Đà Lạt - Ấu trùng (D, E), rết vườn (F)

Ảnh chụp dưới kính hiển vi soi nổi

Rết vườn trưởng thành có chiều dài cơ thể trung bình là 6 ± 5,5 mm, dao động từ 2,5 - 8 mm. Có 6-12 cặp chân (tùy theo độ tuổi), ở tuổi ấu trùng có 6 đôi và con trưởng thành có 12 đôi chân. Cơ thể rết vườn được chia thành 3 phần, gồm phần đầu, thân và đuôi.

Ở rết vườn non có sáu cặp chân, mỗi cặp chân được gắn liền với một cấu trúc túi háng (eversible) hay "túi coxal", có chức năng hấp thụ độ ẩm và một mấu nhỏ có dạng như bút lông (stylus) có chức năng cảm giác. Những cấu trúc này cũng được tìm thấy ở các loài côn trùng nguyên thủy nên rết vườn là nhóm chân khớp tổ tiên của côn trùng.

Rết vườn thở bẳng một đôi lỗ thở ở hai bên đầu. Chúng được kết nối với một hệ thống khí quản mà chi nhánh thông qua đầu và ba đốt đầu cơ thể. Các lỗ sinh dục nằm trên đốt cơ thể thứ tư, nhưng chúng không giao cấu.

2. Tập quán sinh sống của rết vườn tại Đà Lạt

- Rết vườn có đặc tính lẩn trốn rất nhanh và có tính giả chết

- Đất giàu hữu cơ, đất pha cát, đất tơi xốp, nhiều mùn, trên giá thể vườn ươm giàu hữu cơ thích hợp cho rết vườn phát triển và gây hại. Ngược lại, đất thịt, đất sét mật độ rết vườn ít hơn.

- Đất ẩm ướt mật độ rết vườn nhiều, tuy nhiên đất quá ẩm ướt, ngập úng mật độ rết vườn ít hơn.

Rết vườn không ưa thích ánh sáng trực xạ, hoạt động mạnh hơn trong điều kiện bóng tối. Đà Lạt có khí hậu khá thích hợp cho rết vườn tồn tại và phát triển.

3. Đặc điểm gây hại

Rết vườn ăn các rễ tơ và rễ con của cây rau, hoa chúng cũng có thể ăn các bộ phận ngầm khác của cây thân rễ và củ, gây thiệt hại cho cây trồng. Khi mật độ rết vườn cao gây hại có thể làm cho các cây con có thể chết hoặc sinh trưởng và phát triển kém làm giảm năng suất, chất lượng rau, hoa.

Triệu chứng gây hại của rết vườn nhìn chung thường giống với triệu chứng gây hại của một số đối tượng gây hại khác như dòi đục rễ, thối rễ, lở cổ rễ … Cây bị hại có biểu hiện còi cọc, cây biến dạng,  hệ rễ kém tạo điều kiện cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập gây hại thứ cấp

Tại Đà Lạt, rết vườn gây hại trên nhiều loại cây trồng: bó xôi, cải thảo, cải bẹ, xà lách, dâu tây, hành, khoai tây, cải bắp, hoa đồng tiền, hoa cẩm chướng, đậu, cà rốt,…Tuy nhiên, cây bó xôi, cải thảo, cải bẹ mức độ gây hại thường nặng hơn.

Rết vườn gây hại rải rác quanh năm nhưng thường gây hại nặng trong mùa mưa, gây hại ngay từ giai đoạn cây con, nhất là thời kỳ cây ra rễ mạnh.

Vườn bó xôi bị hại                  Cây bó xôi bị hại

4. Biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác

- Làm đất kỹ, cày sâu có thể nghiền nát rết vườn

- Trồng cây giống tốt, khỏe mạnh, bộ rễ phát triển

- Bón phân đầy đủ, cân đối để cây phát triển tốt, tăng sức chống chịu cho cây.

- Xử lý vôi bột trước khi trồng, liều lượng 200 - 300kg/1000m2

- Luân canh với cây trồng ít mẫn cảm như hành tây, hành lá, cây họ đậu, cà rốt…

Sử dụng các chế phẩm sinh học

- Sử dụng chế phẩm nấm xanh xử lý đất hoặc phun gốc cây ngay sau khi trồng Vimetarzimm 95DP (Metarhizium anisopliae var anisopliae Ma), lượng sử dụng 2 kg/1000m2

- Sử dụng thuốc Biosun 123 (Paecilomyces + Metarhizium + Beauverie bassiana+ Bacillus thuringiensis) rải vào đất trước khi trồng, lượng sử dụng 5 kg/1000m2

Phòng Kỹ thuật - Chi cục bảo vệ thực vật Lâm Đồng

Saturday, October 10, 2015

Quản lý bùn đáy trong ao tôm

Bùn đáy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm ao tôm và là nơi phát sinh mầm bệnh. Quản lý tốt bùn đáy sẽ góp phần quan trọng phòng tránh rủi ro và nâng cao năng suất tôm nuôi.

Nguồn gốc và tác động

Bùn đáy trong ao nuôi tôm phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau và có sự khác biệt giữa các ao nuôi, như đất ao bị xói mòn do dòng chảy của nước, từ bờ ao bị rửa trôi, phân tôm, thức ăn thừa, xác chết phiêu sinh vật, vôi, khoáng chất. Bùn đáy trong ao nuôi tôm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng nước ao nuôi tôm, như ôxy hòa tan, độ trong của nước, sự phát triển của tảo. Đặc biệt bùn đáy sinh ra hai sản phẩm chính có tính độc cao đối với nuôi tôm là NH3 và H2S, gây ngộ độc và stress cho tôm, là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng sớm.

Bùn đáy còn là nơi phát sinh các dòng vi khuẩn gây bệnh cho tôm, nhất là các bệnh hoại tử mang, đen mang, mòn đuôi, cụt râu... Sự hiện diện các dòng vi khuẩn và phiêu sinh vật trong ao nuôi tôm thể hiện sự phân hủy tự nhiên của chất độc, chất thải trong ao nuôi tôm. Các quá trình phân hủy bị ảnh hưởng bởi hàm lượng ôxy hòa tan trong ao, nhiệt độ và dòng chảy. Nếu chất thải hình thành nhanh hơn tốc độ phân hủy thì sự tích tụ sẽ xuất hiện trong ao.

Quản lý bùn đáy

Sau mỗi vụ nuôi, nhất là nuôi thâm canh và bán thâm canh, lượng bùn rất lớn. Vì vậy, cần loại bỏ hết bùn ra khỏi ao nuôi, làm sạch đáy ao bằng máy bơm nước áp lực cao, để làm sạch lớp bùn, đồng thời tạo điều kiện cho việc ôxy hóa và giải phóng khí độc tích tụ dưới đáy ao. Với những ao nuôi đáy nhiễm phèn, sau khi dọn sạch bùn đáy cần ngâm nước rửa phèn, sau đó tháo cạn.

Với ao mới xây dựng, cần phải rửa ao nhiều lần, gia cố bờ chắc chắn. Ở giữa ao bố trí một vị trí lõm để gom bùn đáy, tiện xi-phông trong quá trình nuôi. Bố trí hệ thống quạt nước sao cho dòng chảy trong ao đảm bảo chất thải gom tụ giữa ao và tạo được tỷ lệ diện tích đáy ao sạch cao nhất. 

Xử lý bùn đáy sau mỗi vụ nuôi tôm - Ảnh: Vũ Mưa

Chọn loại thức ăn chất lượng tốt, độ tan rã trong nước ít và sử dụng hợp lý, tránh thừa thức ăn. Từ tháng thứ hai trở đi, lượng bùn đáy chất thải trong ao bắt đầu tăng nhanh do lượng thức ăn tăng. Giai đoạn này, quản lý chất thải bùn đáy chính là quản lý tốt thức ăn và chất lượng nước. Đồng thời, cần tăng cường hàm lượng ôxy hòa tan bằng hệ thống quạt nước hoặc sục khí để giảm tác hại của bùn đáy.

Sự phát triển quá mức của tảo cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nền đáy và tăng lượng khí độc trong ao nuôi. Vì vậy trong quá trình nuôi cần sử dụng các loại vôi, khoáng chất, chế phẩm sinh học, các loại phân và biện pháp thay nước hợp lý để duy trì sự phát triển của tảo trong ao nuôi. 

Chọn nguồn nước cấp ít chất lơ lửng, phù du. Trong hệ thống ao nuôi cần bố trí hệ thống ao lắng để lắng cặn chất lơ lửng trước khi đưa vào ao nuôi.

Việc sử dụng máy quạt nước để gom tụ chất thải, dùng các loại vôi, khoáng chất, tránh khuấy động vùng gom tụ chất thải sẽ là một giải pháp tương đối an toàn, vừa tạo ra vùng sạch cho tôm hoạt động vừa tránh sự phát tán chất lơ lửng trở lại nước ao trong thời gian nuôi.

Sự tích tụ chất thải lớn trong ao nuôi tôm thường xảy ra ở các tháng nuôi thứ ba, thứ tư. Một trong những biện pháp giảm bùn đáy trong ao nuôi tôm là áp dụng biện pháp thay nước đáy hoặc dùng hệ thống thoát nước trung tâm, cũng có thể áp dụng biện pháp dùng hệ thống máy hút bùn ra khỏi ao nuôi. Hút bùn ra khỏi ao nuôi mang lại hiệu quả cao nhưng cũng có thể gây nguy hại cho tôm, nếu người nuôi không thực hiện đúng kỹ thuật. Tiến hành hút bùn vào buổi sáng hằng ngày và mỗi đợt không nên quá 7 ngày.

Sự thành công các mô hình nuôi tôm gắn liền với việc quan tâm và chủ động trong việc ổn định nền đáy ao theo hướng hợp lý, hướng các mô hình nuôi thực sự ổn định, bền vững, hiệu quả.

Nhật Minh (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Friday, October 2, 2015

Phòng trừ sâu đục thân hại lúa

Sâu đục thân gây hại biến đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và tuổi phát dục của sâu. Lúa từ thời kỳ mạ đến lúc trỗ bông đều có thể bị hại.

Bướm và nhộng sâu đục thân gây hại lúa

Hà Nội có trên 1.500 ha lúa nếp cái hoa vàng, tập trung tại các huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Oai… Đây là giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn, chỉ gieo cấy được trong vụ mùa. 

Nếp cái hoa vàng là giống bản địa chất lượng cao, chịu thâm canh, chống đổ khá, chống chịu bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá, rầy nâu trung bình, dễ bị sâu đục thân, thời gian sinh trưởng 150 - 155 ngày. Hiện tại lúa đang trong giai đoạn phân hóa đòng, dự kiến trỗ từ ngày 5 - 10/10

Để đảm bảo hiệu quả công tác phòng trừ sâu đục thân hại lúa, Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội giới thiệu đặc điểm hình thái, triệu chứng gây hại, quy luật phát sinh và biện pháp phòng trừ như sau: 

Triệu chứng 

Sâu đục thân gây hại biến đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng của cây lúa và tuổi phát dục của sâu. Lúa từ thời kỳ mạ đến lúc trỗ bông đều có thể bị hại. Cây mạ khi còn nhỏ bị hại có thể chết khô, nếu mạ đã lớn bị hại thì dễ bị đứt gốc khi nhổ mạ. 

Cây lúa ở thời kỳ đẻ nhánh, sâu đục vào phần dưới của thân, cắt đứt tổ chức bên trong phá hại chức năng dẫn nhựa làm cho lá non trước tiên bị cuốn dọc, có màu xanh tái sẫm, dần chuyển sang màu vàng và héo khô. 

Thời kỳ lúa đứng cái làm đòng, sâu non tập trung phá hại phía trong bẹ và đục vào ống. 

Thời kỳ trỗ bông, sâu đục vào cuống bông, cắt đứt sự vận chuyển dinh dưỡng của bông lúa hoặc sâu tuổi nhỏ tập trung cắn nát đòng, bông lúa không trỗ hoặc nếu trỗ thì các hạt bị lép trắng (bạc bông). 

Hình thái 

Trứng đẻ thành ổ hình bầu dục dài, trên mặt phủ một lớp lông màu vàng nhạt ở giữa hơi nhô lên.  

Mới đẻ trứng màu trắng sau chuyển màu ngà vàng sắp nở màu đen. Sâu non đẫy sức dài 21 - 25 mm màu trắng sữa, đầu màu nâu vàng. 

Ngài đực có đầu ngực và cánh trước màu nâu nhạt, giữa cánh có một chấm đen. Ngài cái thân dài 10 - 13 mm, thân màu trắng vàng hoặc vàng nhạt, cuối bụng có chùm lông màu vàng nhạt, giữa cánh trước có một chấm đen. 

Tập quán sinh sống và quy luật gây hại 

Thời gian sinh trưởng và phát dục các giai đoạn của sâu có liên quan mật thiết với điều kiện nhiệt độ và ẩm độ. 

Ở điều kiện nhiệt độ từ 26 - 30 độ C, thời gian phát dục của trứng là 7 ngày, sâu non từ 25 - 33 ngày, nhộng 8 - 10 ngày, bướm vũ hóa đẻ trứng 3 ngày

Ngài thường vũ hóa về đêm, ban ngày ngài đậu yên nấp trong khóm lúa rậm rạp gần mặt nước, khi trời tối ngài hoạt động mạnh từ 19 - 20 giờ

Sau khi vũ hóa thì ngay trong đêm đó ngài có thể giao phối và đêm thứ 2 bắt đầu đẻ trứng. Mỗi ngài cái có thể đẻ 1 - 5 ổ trứng, mỗi ổ trứng có từ 100 - 150 quả trứng. 

Trứng được đẻ ở mút ngọn lúa ở thời kỳ mạ và khoảng gần giữa mặt trên hay dưới lá ở thời kỳ cấy. 

Sâu non khi nở gặm phá chất keo và lông phủ trên ổ trứng chui ra. Nếu lúa đang ở thời kỳ mạ hoặc đẻ nhánh, sâu đục qua bẹ vào đến nõn giữa phá làm cho dảnh lúa bị héo. 

Nếu lúa sắp trỗ hoặc mới trỗ, sâu đục qua lá bao của đòng và chui vào giữa rồi bò xuống đục ăn điểm sinh trưởng, cắt đứt các mạch dẫn dinh dưỡng làm cho bông lép trắng. 

Sâu đục thân bướm hai chấm phá hại nặng trên lúa mùa hơn lúa xuân. Các giống lúa đang trồng chưa có giống nào kháng sâu đục thân hai chấm, giống lúa nếp bị hại nặng hơn giống lúa tẻ. 

Cùng một giống lúa, giai đoạn sinh trưởng khác nhau mức độ hại khác nhau, lúa ở thời kỳ đẻ nhánh rộ, làm đòng, trỗ gặp lứa sâu ra rộ thì mức độ bị hại có khả năng lớn hơn so với các giai đoạn sinh trưởng khác. 

Một năm có 6 - 7 lứa, quan trọng là lứa 25 trùng với tháng 5 và tháng 9. Đây là hai lứa sâu hại cần chú ý phòng trừ vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. 

Bướm vũ hóa sau khi lúa trỗ hoặc trùng với thời gian lúa trỗ tỷ lệ bị hại nhẹ, bướm vũ hóa rộ trước khi lúa trỗ từ 5 - 7 ngày, tỷ lệ bị hại rất nặng. 

Biện pháp phòng trừ 

+ Biện pháp kỹ thuật canh tác: Trên các khu đồng lúa hoặc mạ cần sạch cỏ, phát bờ trước khi gieo cấy, khu vực ruộng mạ nên gieo thành từng khoảnh, từng giống để tiện chăm sóc và phòng trừ sâu hại. 

Bón phân cân đối theo quy trình kỹ thuật đối với giống nếp cái hoa vàng, không sử dụng phân đạm quá nhiều hoặc bón không đúng quy trình. 

Điều khiển nước tưới hợp lý, chủ động để cây lúa sinh trưởng phát triển tốt, có sức chống chịu sâu bệnh cao. 

Khi mật độ trứng sâu đục thân lúa hai chấm khoảng 0,5 ổ/m2 ở giai đoạn làm đòng và theo dõi bướm vũ hóa rộ trước khi lúa trỗ từ 5 - 7 ngày thì sử dụng thuốc BVTV để phun trừ bằng một trong các loại thuốc sau: DuponTMprevathon 5SC, Virtako 40WG, Alocbale 40EC, Regent 800WG, Enasin 32WP… nồng độ và liều lượng theo hướng dẫn ghi trên vỏ bao bì thuốc. 

+ Lưu ý: Phun đủ 25 - 30 lít nước thuốc đã pha/sào (360 m2). Khi phun thuốc trừ sâu đục thân bướm 2 chấm trong thời gian 4 giờ mà gặp mưa thì nhất thiết phải phun lại.

Vân Đình (nongnghiep.vn)

Bệnh thán thư hại chuối tiêu

Bệnh thán thư đang phát sinh gây hại mạnh một số vườn chuối tiêu (chuối lùn) ở các địa phương.

Triệu chứng bệnh thán thư hại chuối

Mặt dưới phần mép của lá xuất hiện những đốm màu thâm to bằng cúc áo, ăn phá lên mặt trên rồi chuyển sang cháy khô loang rộng cùng viền vàng. 

Phần cháy khô hiện lên những đường vân chạy dọc cậng hoặc thành các đường tròn đồng tâm. Nửa ngọn cậng bị thối ướt màu nâu, nửa còn lại dầy trạt những đốm đen ở mé lưng và cũng thối dần. Kết quả, các tầu lá bị gẫy treo khô; thân chuối thối đen. 

Bệnh phát sinh ở những vườn đã trồng từ 2 năm trở lên, có lá dầy, nhiều lá và trồng dầy. Trong cùng một cây, lá ngoài cùng bị trước rồi lần lượt đến các lá trong. Tốc độ lây lan và phá hại mạnh khiến cây chết khô; gây vết đốm trên vỏ quả ngay từ khi vừa tròn cạnh nên ảnh hưởng nhiều đến năng suất và chất lượng thu hoạch. Đối tượng gây hại là loại nấm thán thư, sẵn có trong đất trồng và môi trường. Do đặc điểm cấu tạo cây chuối nên bệnh này rất khó diệt trừ. 

Thời tiết có nhiều nắng nóng nhiệt cao, lượng mưa không điều hòa; giống chuối mẫn cảm nhiều, trồng dầy và tốt lốp là những điều kiện thuận lợi cho nấm thán thư phát sinh gây hại. 

Cần kiểm tra kịp thời, nhận diện được triệu chứng bệnh hại. Đồng thời phải thường xuyên thực hiện dọn vệ sinh, cắt xén các loại cỏ dại và các loại tầu lá đã già chết khô hoặc do bệnh hại, thu gom và đốt tiêu hủy nơi xa vườn. Chuối lùn cao cây và nhiều lá, tốt nhất nên chuyển sang trồng chuối tiêu hồng hoặc để mỗi bụi 1 cây mẹ và 1 - 2 cây con là hợp lý. 

Khi có tới 3% số cây mắc bệnh, cần phải tạm dừng việc bón thúc. Dùng ngay 1 trong 2 loại thuốc Score250EC, Carbenzim500FL và chất bám dính HPC, phun luân phiên theo chu kỳ 2 ngày 1 lần. Ở lượng, 1 cốc Score250EC loại 10 ml hoặc 30 ml Carbenzim500FL pha chung với 20 ml chất bám dính HPC trong 16 lít nước, phun đẫm đều cho 4 - 5 thước vườn.

Nguyễn Hữu Vân (nongnghiep.vn)

Thu hoạch và bảo quản tôm đúng cách

Thu hoạch tôm đúng phương pháp thích hợp và bảo quản tốt sẽ nâng cao giá trị, hiệu quả và làm gia tăng giá trị sản phẩm.


Phương pháp thu hoạch

Trước khi thu hoạch tôm cần chọn thời điểm tôm cứng vỏ, kích cỡ tôm đạt tiêu chuẩn (tôm thẻ chân trắng 60 - 80 con/kg, tôm sú 35 - 50 con/kg). Chuẩn bị đủ dụng cụ (tấm bạt, vợt, rổ, xô nhựa, thùng cách nhiệt, nước sạch, đá sạch, giai, lưới…), tùy theo sản lượng tôm cần thu hoạch mà bố trí nhân lực cho hợp lý.

Phương pháp thu hoạch phổ biến được áp dụng hiện nay là thu cạn hoặc thu bằng lưới có xung điện.

Thu cạn: Là phương pháp hiệu quả nhất; tốn ít thời gian, tôm đạt chất lượng, ít bị dập vỏ, đáy ao không bị khuấy động, nước không bị đục, tôm sạch. Tháo 30% lượng nước trong ao, dùng lưới vét có chiều dài tối thiểu bằng chiều dài 1 cạnh bờ ao để kéo thu tôm. Chỉ kéo thu tôm trên từng phần diện tích ao, khi thu được phần lớn số lượng tôm trong ao mới vét toàn bộ diện tích ao, sau đó bơm cạn, thu nốt số còn lại. Tuy nhiên chỉ có thể sử dụng phương pháp này ở những hệ thống nuôi tôm được thiết kế đảm bảo tháo 4 - 6 giờ, nước có thể cạn hết.

Đánh lưới tôm: Là phương pháp hiện nay được người nuôi sử dụng phổ biến nhất. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là thường cần dùng xung điện, làm xáo động đáy ao, tôm có thể bị lẫn bùn đất. Thường thu tôm vào sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thu, tháo bớt nước đến mức có thể để thu hoạch được dễ dàng hơn.

Ngoài ra, trong một số mô hình nuôi tôm quảng canh, người nuôi còn dùng một số phương pháp thu hoạch như dùng đăng chắn, chài, lú… Lợi dụng tập tính bơi ngược dòng nước của tôm, người nuôi có thể dùng đăng thu hoạch tôm. Phương pháp này thường áp dụng khi nuôi tôm diện tích rộng. Khi muốn thu tỉa những con đạt trên 30 g, áp dụng ở đầm, ao nuôi có đáy gồ ghề, người nuôi có thể dùng chài thu hoạch tôm. Khi thu hoạch bằng chài, chú ý bắt tôm lúc trời mát.

Phương pháp bảo quản

Bảo quản sống: Sau khi kéo lưới, cho tôm vào giai lưới được đặt nơi có nguồn nước sạch, mật độ 300 - 350 con/m3. Để bảo quản theo cách này, cần đảm bảo tôm thu hoạch phải sống, khỏe mạnh, không xây xát. Trong quá trình bảo quản cần dùng máy sục khí để tăng lượng ôxy hòa tan trong giai, thời gian bảo quản tôm trong giai không quá 5 giờ, sau đó cần đưa ngay tới nơi tiêu thụ.

Bảo quản chết: Rửa và chọn tôm nơi thoáng mát. Tôm được để trên tấm nhựa hoặc rổ nhựa rửa sạch, không để tôm rơi trực tiếp xuống đất, sàn gỗ hoặc nền xi măng.

Gây chết bằng nước đá lạnh theo tỷ lệ 2 phần tôm, 1 phần đá và 1 phần nước. Đổ nước vào thùng nhựa hoặc thùng cách nhiệt. Cho nước đá xay với tỷ lệ 10 kg đá trong 10 lít nước. Khuấy đều cho nước đá tan, cho 20 kg tôm vào thùng, đậy nắp lại và giữ nước khoảng 30 phút.

Sau khi tôm được làm lạnh, tiến hành vớt tôm và chuyển sang ướp với đá xay trong thùng cách nhiệt. Rải 1 lớp đá khoảng 10 cm ở đáy thùng cách nhiệt. Sau đó xếp lần lượt 1 lớp tôm một lớp đá. Tỷ lệ tôm và nước đá phụ thuộc thời gian vận chuyển. Nếu thời gian bảo quản không quá 12 giờ, ướp tôm với tỷ lệ 10 kg tôm với 5 kg đá, thời gian vận chuyển 12 - 14 giờ, ướp tôm với tỷ lệ 10 kg tôm với 10 kg đá. Trên cùng phủ một lớp đá dày > 10 cm. Đậy kín nắp thùng và bảo quản nơi thoáng mát.

Thường xuyên kiểm tra thùng bảo quản tôm để kịp thời khắc phục các sự cố như rò rỉ, đá tan nhanh...        

Hữu Văn (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Sunday, August 9, 2015

Phòng trị bệnh dính chân trong ương tôm giống

Hiện tượng dính chân xảy ra phổ biến trong quá trình ương nuôi ấu trùng tôm, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất giống.

Nguyên nhân

Ấu trùng tôm bị dính chân là do một hoặc một số các nguyên nhân như: nguồn nước trước khi cấp vào bể ương chưa được xử lý kỹ. Việc sử dụng tảo khô Spirulina làm thức ăn cho ấu trùng tôm quá sớm hoặc kiểm soát lượng tảo không chặt chẽ, cho ăn dư thừa quá nhiều. Cho ăn tảo khô quá sớm khi ấu trùng chưa chuyển hết sang Zoea 1, lượng tảo dư tạo thành màng nhầy bám dính vào chân và phụ bộ của ấu trùng. Sử dụng tảo quá già làm thức ăn cho ấu trùng tôm. Khi tảo quá già sẽ nhanh chóng tàn và tạo chất nhớt trong bể ương. Ngoài ra sử dụng tảo, thức ăn, artemia kém chất lượng làm thức ăn cho ấu trùng tôm cũng tạo chất nhớt dễ bám dính vào ấu trùng tôm. Khi môi trường nước xấu đi do tảo, thức ăn hay phân làm môi trường nước ô nhiễm dẫn đến hiện tượng ấu trùng tôm dính vào nhau thành từng cục làm ấu trùng không thể bơi, không bắt mồi và chết dần. Hiện tượng dính chân xảy ra ở tất cả các giai đoạn trong quá trình ương ấu trùng nhưng thường gặp hơn ở giai đoạn Zoea.

Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, môi trường trong quá trình ương góp phần nâng cao sức đề kháng của ấu trùng tôm - Ảnh: PTC

Cách phòng bệnh

Sau khi tôm đẻ 30 - 32 giờ, thu Nauplius trong bể đẻ và chuyển vào chậu (thùng nhựa) 20 - 100 lít, sục khí nhẹ để ấu trùng phân bố đều, tắm ấu trùng bằng một trong các hóa chất KMnO4 5 ppm, Iodin 5 ppm trong 3 - 5 phút, tắm bằng Formaline 100 - 200 ppm trong 30 - 60 giây để khử trùng trước khi thả vào bể ương, loại bỏ các chất bẩn bám trên ấu trùng trong quá trình ấp. Sau đó tắm lại Nauplius bằng nước sạch để loại bỏ dư lượng thuốc khử trùng.

Nước trước khi đưa vào bể ương ấu trùng tôm phải khử trùng bằng ôzon hoặc Chlorine (25 - 30 ppm) trong là 24 giờ. Trung hòa Chlorine dư bằng thiosulphate theo tỷ lệ 1:1. Dùng test Chlorine kiểm tra Chlorine dư, nước cấp cho bể nuôi vỗ có hàm lượng Chlorine dư < 0,1 ppm. Cấp nước biển đã khử trùng qua túi lọc bông, rồi bổ sung EDTA 10 ppm và sục khí trong thời gian ít nhất 24 giờ trước khi thả ấu trùng Naplius vào ương.

Nếu dùng tảo khô cho ấu trùng ăn chỉ được dùng khi ấu trùng đã chuyển hết sang giai đoạn Zoea 1, cho ăn với lượng vừa đủ tránh dư thừa. Tốt nhất khi tôm ở giai đoạn Zoea nên cho ấu trùng ăn bằng tảo tươi giúp ấu trùng dễ bắt mồi và không làm ô nhiễm nước. Sử dụng nguồn tảo tươi, artemia, thức ăn công nghiệp phải đảm bảo chất lượng, không dùng tảo quá già, tảo không bị nhiễm tạp.

Để phòng hiện tượng dính chân ở ấu trùng tôm cần quản lý tốt môi trường bể ương trong suốt quá trình ương. Định kỳ xi phông đáy, thay nước kết hợp sử dụng một số loại vi sinh có lợi trong việc phân hủy phân và thức ăn dư thừa.

Điều trị khi tôm bị dính chân

Cần giảm lượng thức ăn, nhất là lượng tảo khô. Sử dụng hóa chất như Cloramine 0,25 - 0,5 ppm, Triflan 0,05 ppm để làm sạch chất bẩn bám trên ấu trùng. Thay nước từ 20 - 50% kết hợp với vi sinh nhằm phân hủy nhanh chất bẩn và giúp vi sinh vật có lợi phát triển. Bổ sung EDTA 10 - 30 ppm, Vitamin C và Vitamin tổng hợp với liều lượng 1 ppm, chống sốc cho ấu trùng trong quá trình xử lý. Nếu môi trường nước quá xấu, nước bẩn tạo thành sợi thì sử dụng vợt lưới để loại bỏ chất bẩn ra khỏi bể ương.

Quản lý chặt chẽ lượng thức ăn, chất lượng thức ăn, môi trường trong suốt quá trình ương… không những kiểm soát hiện tượng dính chân còn góp phần nâng cao sức đề kháng của ấu trùng tôm.

Gia Phong (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Kỹ thuật nuôi cá chim vây vàng

Cá chim vây vàng là loài cá nuôi ít rủi ro, cho lợi nhuận 40.000 - 80.000 đồng/kg. Những năm gần đây một số địa phương tận dụng các ao nuôi tôm bỏ hoang do dịch bệnh để nuôi thương phẩm loài cá này.

Chuẩn bị ao nuôi

Nơi có giao thông và địa hình thuận tiện, có chất đất là đất sét hoặc sét pha cát và có nguồn nước cấp chủ động quanh năm. Điều kiện tốt nhất để nuôi cá chim vây vàng là nhiệt độ trong khoảng 26 - 320C, độ mặn từ 10 - 20%, ôxy hòa tan 5 - 7 mg/lítNH3 < 0,9 mg/lít.

Ao nuôi có diện tích từ 2.000 - 5.000 m2 là thích hợp, ao có hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật. Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m. Ao có hệ thống cấp và thoát nước riêng biệt. Đáy ao bằng phẳng, hơi nghiêng về phía cống thoát.

Trước khi thả nuôi khoảng 2 tuần, cần tháo cạn nước, cày xới lớp đất mặt đáy ao, bón vôi với lượng 1.000 - 1.500 kg/ha, tùy theo độ chua, sau đó phơi ao từ 1 - 2 tuần. Cấp nước vào ao nuôi qua lưới lọc có kích thước mắt lưới 2,5 mm.

Chọn và thả giống

Chọn giống khỏe mạnh, không dị hình, không có dấu hiệu mắc bệnh; bơi lội linh hoạt, ngược chiều dòng chảy; có kích thước đồng đều, cỡ giống khoảng 8 - 10 cm, mật độ thả 1 - 2 con/m2 tùy vào điều kiện đầu tư, chăm sóc. Thời gian thả giống vào khoảng tháng 3, tháng 4 trong năm. Trước khi thả tắm cá bằng nước ngọt hoặc fomaline, nồng độ 20 ppm trong 10 - 15 phút. Trong quá trình tắm cần quan sát và cung cấp đủ ôxy, nếu cá có biểu hiện sốc cần giảm nồng độ thuốc hoặc rút ngắn thời gian tắm cá. Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Cá nuôi sau 10 - 12 tháng có thể cho thu hoạch - Ảnh: Nam Anh

Chăm sóc, quản lý

Sử dụng thức ăn viên dạng nổi, loại chuyên dùng cho nuôi cá nước lợ, mặn có hàm lượng đạm 40 - 45%, hàm lượng lipid 12 - 15%, không sử dụng thức ăn kém chất lượng, thức ăn bị ẩm mốc. Khi cá mới thả cho ăn với khẩu phần 3 - 5% trọng lượng thân, khi trọng lượng cá trên 90 g cho ăn với khẩu phần 2 - 3% trọng lượng thân, cá trên 250 g cho ăn với khẩu phần 1,5 - 2%. Để hạ giá thành sản phẩm có thể dùng cá tạp băm nhỏ làm thức ăn cho cá chim vây vàng.

Sử dụng sàng ăn bằng khung nhựa hoặc tre, gỗ để cho cá ăn. Cho cá ăn ngày 2 lần vào 7 - 8 giờ sáng và 17 - 18 giờ chiều. Vào những ngày nhiệt độ nước dưới 220C hoặc trên 320C giảm 50% lượng thức ăn; những ngày nhiệt độ nước dưới 170C hoặc trên 360C, cho cá nhịn ăn. Cần quan sát khả năng bắt mồi của cá và lượng thức ăn thừa trong sàng ăn để điều chỉnh lượng thức ăn một cách thích hợp nhất.

Định kỳ thay nước 1 tháng/lần vào những lúc chất lượng nước thủy triều tốt nhất, tránh thay nước vào đầu con nước. Mỗi lần thay 20 - 30% lượng nước ao nuôi. Định kỳ sử dụng men vi sinh hoặc chế phẩm sinh học để xử lý môi trường nước ao nuôi.

Từ tháng nuôi thứ 2 cần quạt nước hoặc sục khí để tăng hàm lượng ôxy hòa tan. Thời gian quạt nước khoảng 5 - 8 giờ/ngày vào khoảng 23 giờ hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau. Vào những ngày thời tiết thay đổi, bất thường hay những thời điểm nắng nóng kéo dài cần tăng cường thời gian chạy quạt nước.

Định kỳ bổ sung Vitamin C, Vitamin tổng hợp, men tiêu hóa vào thức ăn để tăng cường sức đề kháng, chống sốc cho cá nuôi, đặc biệt vào những thời điểm trước khi giao mùa hay trước những đợt nắng nóng.

Kiểm tra tốc độ tăng trưởng và tình hình bệnh cá để có chế độ điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp và biện pháp xử lý bệnh kịp thời.

Thu hoạch

Sau 10 - 12 tháng nuôi cá đạt kích cỡ thương phẩm có thể tiến hành thu hoạch. Cho cá nhịn ăn 1 ngày trước khi thu hoạch. Không thu cá vào những lúc trời nắng to hoặc những ngày thời tiết âm u. Cá có thể vận chuyển tươi sống trong 7 - 8 giờ với mật độ < 50 kg/m3.

Cá chim vây vàng là đối tượng có giá trị kinh tế cao, giá từ 6 - 7 USD/kg, khả năng tiêu thụ rất tốt cả ở thị trường nội địa và xuất khẩu.

Nguyễn Nhung (Tạp chí Thủy sản Việt Nam)

Monday, August 3, 2015

Cách quy đổi phân NPK

Sử dụng phân tổng hợp (NPK) để thay thế các loại phân đơn (urê, supe lân, kali clorua…) trong sản xuất hiện nay rất phổ biến đối với nông dân.

Ảnh minh họa

Song sử dụng lượng như thế nào để bảo đảm đủ, giống như bón phân đơn thì nhiều nông dân còn chưa biết, vì không biết cách quy đổi. Xin giới thiệu công thức tính quy đổi từ phân NPK tương ứng ra phân đơn để nông dân biết lượng cần dùng khi mua và bón phân cho cây trồng.

Trên bao bì mỗi bao phân bón tổng hợp NPK luôn có dòng chữ và số ghi rõ ràng tỷ lệ các chất dinh dưỡng có trong bao phân. Ví dụ, phân NPK (5:10:3) hoặc NPK (16-16-8) hay NPK (13-13-13-TE)… Các con số này biểu thị hàm lượng dinh dưỡng nguyên chất của các nguyên tố đạm, lân và kali có trong mỗi loại phân. Ví dụ phân NPK (5:10: 3) có nghĩa là trong 100 kg phân bón tổng hợp này có 5 kg đạm nguyên chất, 10 kg lân nguyên chất và 3 kg kali nguyên chất. 

Cách quy đổi như sau: 

- 1 kg đạm nguyên chất (1 kg N) = 2,17 kg u rê = 5 kg đạm sunphat.

- 1 kg lân nguyên chất (1 kg P2O5) = 6,06 kg supe lân hoặc lân nung chảy.

- 1 kg kali nguyên chất (1 kg K2O) = 1,67 kg kali clorua  = 2 kg kalisunphat.

Ví dụ 1: Trong 100 kg NPK (5:10:3) có 5 kg N, 10 kg P2O5 và 3 kg K2O. 

Vậy sẽ tương ứng có: 5 kg N x 2,17= 10,85 kg u rê = 25 kg đạm sunphat.

10 kg P2O5 x 6,06 = 60,6 kg supe lân hoặc phân lân nung chảy. 

3 kg K2O x 1,67 = 5,01 kg kali clorua = 6 kg kali sunphat. 

Đồng nghĩa rằng, khi nông dân mua 100 kg NPK (5:10:3) về mặt dinh dưỡng sẽ tương ứng với mua 10,85 kg u rê + 60,6 kg supe lân + 6kg kali clorua.

Ví dụ 2: Trong 25 kg NPK (16-16-8) có 4 kg N + 4 kg P2O5 + 2 kg K2O. Tương ứng với 8,68 kg u rê + 24,24 kg supe lân + 3,34 kg kali clorua. 

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách/ Báo Hải Dương)

Saturday, August 1, 2015

Cà chua bị héo xanh

Thâm canh cà chua hiện đã được phát triển rộng rãi trong các vụ ở nhiều vùng nhưng việc khống chế bệnh chết héo xanh đang là bài toán nan giải đối với nông dân.

Ảnh minh họa

Khi cây cà chua chết nhiều vì bệnh này lại là giai đoạn cây đang ra hoa và phát triển quả khiến thiệt hại rất lớn. Xin chia sẻ với bà con một số kinh nghiệm xử lý tình trạng này:

Bệnh chết héo xanh cà chua do vi khuẩn P.solanacearum gây ra. Vi khuẩn xâm nhiễm vào rễ, gốc thân, thân và cuống lá qua vết sây sát. Khi cây cà chua bị bệnh này sẽ dẫn đến hiện tượng héo ngọn rồi kéo theo các bộ phận khác rất nhanh (từ 2-3 ngày sau khi héo ngọn).

Việc phòng trừ bệnh này là rất khó đối với nông dân vì nhiều người khi thấy cây bị héo rồi mới tiến hành phun thuốc, trong khi vi khuẩn lại không thể chết bởi thuốc hóa học và lúc cây héo thì đã là giai đoạn cuối của bệnh. Vì vậy, muốn phòng trừ bệnh héo xanh vi khuẩn trên cây cà chua nói riêng cũng như nhiều cây trồng khác bị bệnh này thì biện pháp khả thi nhất là áp dụng tốt kỹ thuật, gồm: 

- Đất trồng cà chua nên luân canh với lúa nước và không trồng liền vụ với các cây họ cà. Không nên làm đất quá nhỏ, khi trồng không nên ấn chặt đất hay dúi sâu rễ để tăng thêm lượng oxy lưu thông trong luống đất cũng như tại vị trí bộ rễ cây, giúp cây ít bị nghẹt rễ và phát triển thuận lợi hơn, vi khuẩn ít tấn công hơn… 

- Tuyệt đối không trồng cây trên phân hữu cơ tươi do quá trình phân hủy, phân này tạo môi trường yếm khí sản sinh ra nhiều axit, là điều kiện lý tưởng cho vi khuẩn héo xanh sinh trưởng và phát triển mạnh. Nếu nông dân bón phân chuồng cho cà chua thì tốt nhất nên ủ mục và bón vào rạch giữa 2 hàng rồi phủ kín đất. 

- Mật độ trồng vừa đủ: Với những giống cà chua sinh trưởng bán hữu hạn như hiện nay thì mật độ thích hợp cho cà chua phát triển thuận lợi và hạn chế sâu bệnh là: Cây cách cây từ 40 - 45 cm, hàng cách hàng từ 70 - 75 cm (tương đương khoảng 750 cây/sào). 

- Không trồng cây vào vị trí trũng trên luống: Nên trồng ở những vị trí cao nhất trên mặt luống sẽ giúp cây không bị chết úng. Ở những vị trí này sẽ giúp bộ rễ cây phát triển thuận lợi hơn, môi trường không yếm khí thì vi khuẩn héo xanh ít tập trung xâm nhiễm rễ cây trồng.

- Việc tưới nước giữ ẩm cho các luống cà chua cần phải điều hòa, không để quá khô hay quá ẩm. Vì nếu bị khô quá rễ cây sẽ có nguy cơ bị đứt, khi tưới nước thì bộ rễ cây sẽ co giãn tức thời dễ làm vỡ các tế bào rễ non tạo "cánh cửa" cho vi khuẩn héo xanh chui vào bó mạch gây hại. 

- Cần bón phân cân đối. Thời kỳ cà chua còn non không nên chăm bón cho cây tốt quá, nhất là thừa đạm. Chăm sóc sao cho các cây chỉ phát triển trung bình, giúp rễ, thân, lá sẽ cứng cáp và dẻo dai hơn. Gặp thời tiết bất lợi như nắng mưa xen kẽ thì cây có sức chống đỡ tốt hơn, nhất là bộ rễ. Chỉ nên tập trung dinh dưỡng cho cây ở giai đoạn ra hoa, đậu quả đến nuôi quả (kể từ khi cây ra chùm quả đầu tiên).

- Ngoài các biện pháp như trên, nông dân có thể bổ sung thêm vào vùng rễ một lượng nấm đối kháng Trichodecma hay nấm cộng sinh Mycorrhiza ngay sau trồng nhằm ức chế, cạnh tranh và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh héo xanh. Trước khi trồng nên nhúng rễ cây con vào dung dịch nấm đối kháng hay nấm cộng sinh…

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách/ Báo Hải Dương)