This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sunday, July 5, 2015

Kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản cho năng suất, lợi nhuận cao

Nhờ những cách gây giống cũng như kỹ thuật trồng cây Atiso hiện đại, ngày nay người ta có thể trồng cây Atiso ở khắp nơi, ngay trong những vùng có khí hậu không hợp.

Cây Atiso xuất phát từ miềm nam Âu châu. Chúng mọc và phát triển cách đây hàng bao trăm năm trên những vùng đất phì nhiêu có nhiều ánh nắng. Với kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản, hiện nay mọi người có thể dễ dàng áp dụng trồng ở mọi nơi cho năng suất, thu nhập cao.

Atiso ngày nay xuất xứ từ hai nguồn gốc: green và globe. Green Atiso mọc rất mạnh, hợp với khí hậu lạnh. Mùi vị của chúng bù lại không được đậm đà như loại globe Atiso, loại có màu hơi tím ở lá cuống bông. Một trong những loại được yêu chuông nhất ngày nay là loại green globe Atiso, được ghép vào thế kỷ 19 từ hai loại kể trên. 

Đất trồng

Về đất trồng, Atiso thích hợp với điều kiện đất nhiệt trung bình, hàm lượng hữu cơ 5 - 7%, giữ ẩm và thoát nước tốt. Ẩm độ đất trong vụ khô cần trên 80%, tuy nhiên nếu ẩm độ đất quá cao và kéo dài trong vụ mưa sẽ dễ gây bệnh chết cây con.

Kỹ thuật trồng cây Atiso đơn giản lại cho năng suất cao nên vào vụ mùa người dân thu được lợi nhuận rất cao

Độ pH thích hợp là 6 - 6,5. Đối với điều kiện đất Đà Lạt thì hàng năm phải bón vôi để duy trì độ pH ổn định, nhất là vùng đất thấp. Đất trồng nên chọn đất nhẹ đến trung bình (đất podzolic vàng đỏ), loại đất tốt, thoát nước, giữ ẩm tốt. Nên thực hiện chế độ thâm canh, hay trồng hai vụ liên tiếp, sẽ giảm năng suất và sâu bệnh nhiều.

Tốt nhất nên luân canh với các cây họ đậu, rau và hoa. Đất trồng được bón bằng phân chuồng đã ủ hoai mục và super lân, vôi bột. Quy cách luống ươm: 1,2 - 1,3m; trồng: 4 - 5 hàng, cây x cây: 15 - 20cm.

Cách trồng

Trồng Atiso bằng cây con: Một vài loại Atiso đẻ cây non, người ta chỉ cần tách những cây non ra và trồng. Trồng Atiso bằng hạt: Gieo hạt vào mùa xuân, nên dùng đất nhiều chất mùn tốt để tránh hột giống bị hư. Sau khi mọc được hai lá thì trồng trồng cây non vào bịch và cứ hai tuần tưới một lần.

Cây Atiso không chịu lạnh và chỉ hợp với khí hậu dịu mát. Nên chú ý đến khoảng cách trồng cây Atiso. Một cây Atiso lớn có đường kính gần 4 thước. Do vậy, không nên trồng Atiso quá dày. Khoảng cách tối thiểu phải là 1,2 thước. Trồng quá dày làm gió không thổi luồng được và sẽ cây dễ bị bệnh nấm sương.

Nếu thực hiện đúng kỹ thuật trồng cây Atiso, cây sẽ trổ nụ sau khi trồng khoảng từ 90 -100 ngày

Vì là loại cây nhiều mùa cho nên đất trồng phải được bón đầy đủ phân và ít cày bới. Nồng độ pH ở vào khoảng 6-8 là tốt nhất, Atiso sẽ trổ nụ sau khi trồng khoảng từ 90 -100 ngày. Trong năm đầu mỗi nhánh chỉ cho khoảng 2 bông. Những năm kế tiếp mỗi nhánh có thể trổ đến 12 nụ và cứ như vây liên tiếp từ 4 - 7 năm.

Chăm sóc

Sau khi trồng phủ cỏ khô để giữ ẩm và tưới nước 2 lần/ngày (nếu trời nắng). Giữ ẩm sau 7 - 10 ngày dỡ bỏ lớp che phủ ra. Sau cây hồi sinh bén rễ sử dụng DAP, NPK 16-16-8 để bón thúc 2 lần.

Khi bắt đầu trổ nụ, nên để ý để có thể thu hoạch đúng thời điểm

Có thể sử dụng các loại phân bón lá để phun xịt cây con sinh trưởng tốt. Chú ý không nên sử dụng chế độ bón phân đạm cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cây con. Để phòng trừ sâu bệnh cho vườn ươm định kỳ 7 ngày/lần xịt các loại thuốc như: rovral, moncerew, zineb, topsin và các loại thuốc sâu như: sumicidin, pegasus…

Thu hoạch

Khi bắt đầu trổ nụ, nên để ý để có thể thâu hoạch đúng thời điểm. Ðộ lớn vừa đủ trước khi lá bông bắt đầu mở. Trễ quá nụ sẽ bị cứng và trở nên như gỗ. Cắt nụ với cuống có độ dài từ 3 - 5 cm. Cuống của Atiso có vị như nụ, vì vậy không nên vứt bỏ. Sau khi thâu hoạch, nên cắt cuống đến tận chân và bón phân để thúc cây trổ mầm mới. 

Bích Phượng (Vietq T/h)

Kỹ thuật trồng măng cụt cho năng suất vượt trội

Trái măng cụt có giá trị kinh tế cao và có thị trường xuất khẩu rất lớn. Ở Việt Nam, trái măng cụt có giá trị dinh dưỡng cao nên được nhiều người ưa thích. Vì vậy, bà con nên nắm vững kỹ thuật trồng cây măng cụt cho năng suất cao nhất.

Măng cụt thuộc cây ăn quả nhiệt đới được trồng nhiều ở Thái Lan, Mã lai, Phi luật tân, Indonesia và Việt nam. Măng cụt là loại trái cây được nhiều người ưa chuộng và dược xem như là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng. Dưới đây là những kỹ thuật trồng cây măng cụt đúng cách nhất cho năng suất vượt trội.

Kỹ thuật trồng cây măng cụt đúng cách sẽ cho thu hoạch cao nhất

Giống và kỹ thuật nhân giống

Măng cụt có thể được nhân giống bằng cách ghép đọt hoặc gieo hạt. Phương pháp ghép không đạt hiệu quả cao do cây con có tỉ lệ hao hụt rất lớn; cây ghép cho trái nhỏ và ít hơn so với cây trồng bằng hạt.

Gieo hạt là phương pháp nhân giống phổ biến của măng cụt. Măng cụt đậu trái không thụ phấn, hạt măng cụt được phát triển từ phôi cái nên cây trồng từ hạt có đặc tính giống như cây mẹ.

Cách gieo hạt: Hạt măng cụt mau mất sức nẩy mầm, do đó không nên dự trữ hạt lâu. Chọn hạt to, nặng > 1g từ những trái mặng cụt chín. Rửa sạch hạt va gieo vào bầu đất hoặc liếp ươm.

Vật liệu của bầu hoặc liếp ươm là tro trấu, bột sơ dừa hoặc cát mịn trộn phân hữu cơ. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm, 20 - 30 ngày sau hạt sẽ nẩy mầm. Khi cây lớn thì chuyển sang bầu lớn chú ý không làm tổn thương rễ vì rễ măng cụt không có lông hút và rất yếu.

Mật độ khoảng cách

Măng cụt có tán cây lớn, tán là sum xuê, do đó nên trồng thưa cây cách nhau 7 - 10m. Mật độ 100 - 200 cây/ha, với khoảng cách trồng nầy cây sẽ giao tán sau 30 năm trồng.  

Chuẩn bị mô

Mô cần được chuẩn bị 1-2 tháng trước khi trồng. Mô hình tròn có đường kính 0,6 - 0,8m, cao 0,3 - 0,5m tùy theo địa hình cao hay thấp. Đất mô nên trộn với 10 - 20 kg phân chuồng hoai và 200g phân NPK 15-15-15. 4.

Kỹ thuật trồng

Khi cây con được 2 năm tuổi thì đem đi trồng, lúc này cây có 12-13 cặp lá và 1 cành cấp 1, khoét lỗ trên mô vừa với bầu đất, nhẹ nhàng đặt cây vào, lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc giữa cây không bị đổ ngã. Khi đặt cây cần cẩn thận để không bị hư rễ.

Làm cỏ, trồng xen

Có thể dùng một số cây ngắn ngày làm cây trồng xen trong vườn cây măng cụt để góp phần hạn chế cỏ dại phát triển. Việc trồng xen cần bảo đảm cây trồng xen không cạnh tranh nước và dinh dưỡng với cây măng cụt.

Cần chăm bón, tưới nước đúng thời điểm

Trong những năm đầu khi cây chưa khép tán, cỏ dại sẽ phát triển mạnh, nên diệt cỏ bằng phương pháp thủ công, hoặc dùng máy cắt cỏ, khi cần thiết có thể diệt cỏ bằng thuốc hoá học như: Glyphosate, Gramoxone,...

Tưới nước

Măng cụt là cây có nhu cầu nước rất lớn, nhất là giai đoạn cây con và cây đang mang trái vì sau khi trổ (tháng 12 dương lịch) là thời kỳ không mưa. Do đó, cần phải tưới nước cách ngày cho cây nhất là ở giai đoạn sau khi trổ hoa, trái.

Thu hoạch

Hái trái lúc trái có màu hồng, khi hái phải thật cẩn thận và tránh sự va chạm mạnh trên trái nhằm giảm đến mức thấp nhất sự xây xát. Nên dùng dụng cụ có túi vải để hái trái, tránh để trái rơi tự do trên mặt đất làm xay xát vỏ trái... 

Bích Phượng (Vietq T/h)

Hệ thống lọc nước bằng cá rô phi giúp tăng năng suất tôm nuôi

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm, giúp tăng năng suất tôm nuôi.

Theo thông tin từ Đài PT-TH Sóc Trăng, môi trường vùng nuôi xuống cấp sau nhiều năm nuôi liên tục, quy trình nuôi thâm canh tăng mạnh thì ít nhất giải pháp nuôi cá rô phi trong ao lắng sẽ góp phần giảm bớt lượng thuốc, hóa chất đưa xuống ao nuôi. Cá rô phi còn giúp giảm áp lực khí độc dưới đáy ao nuôi tôm, như các nhà khoa học nhận định: “cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm.

Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Chủ tịch Hiệp hội Tôm Mỹ Thanh cho biết: “Môi trường xuống cấp nghiêm trọng, ở đây nhiều bà con trong hiệp hội cũng đã nuôi cá rô phi ghép trong ao nuôi, lấy nước nuôi cá rô phi để nuôi tôm thời gian vừa qua bà con làm rất hiệu quả. Tuy nhiên đây là biện pháp nuôi để ổn định môi trường, hạn chế thuốc hóa chất nhất là môi trường nước trong ao rất tốt, ít tốn chi phí để xử lý”.

Thạc sĩ Lâm Ánh Tiên - Phó Trưởng Phòng Kỹ thuật Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng cho biết thêm: “Các nhà khoa học cũng đã chứng minh được hình thức nuôi cá phi trong ao, nuôi lồng, nuôi cá lấy nước nuôi tôm thì lợi ích khá lớn vì nguồn nước này có chứa các loại vi khuẩn có lợi. Nuôi ghép cá phi sẽ làm giảm các độc tố đáy ao tôm, như khí NH3 gây ô nhiễm nền đáy ao. Mặt khác khi lấy nguồn nước này thì các chất lơ lững trong ao nuôi rất hạn chế, có lợi cho nuôi tôm”.

Nuôi cá rô phi trong ao lắng là một phương pháp vệ sinh nước trước khi nuôi tôm, giảm bớt tối đa sự phát sinh mầm bệnh xảy ra trong ao tôm. Theo thống kê thì ao nuôi cá rô phi có màu nước tốt, ít tảo tàn, môi trường ổn định. Cá rô phi có khả năng làm xanh nước, giảm sự phát triển vi sinh vật.

Cá rô phi là máy lọc nước sinh học” cho ao nuôi tôm, góp phần tăng năng suất. Ảnh minh họa

Hơn nữa, cá rô phi còn sử dụng xác tôm, cá, động vật thủy sản chết, từ nguồn nước lấy vào hệ thống ao lắng, nhằm hạn chế sự phát tán của sinh vật gây bệnh từ ngoài vào hệ thống nuôi. Như vậy, nuôi cá rô phi trong ao lắng để có nguồn nước chất lượng tốt, dùng trong ao nuôi tôm hạn chế tối đa sự phát triển mầm bệnh.

Ao lắng nuôi cá rô phi có diện tích 20 - 25% diện tích mặt nước nuôi để dự trữ, chủ động nguồn nước có chất lượng phục vụ hệ thống nuôi tôm. Ao nuôi có diện tích 60 - 70% diện tích, còn lại là ao chứa nước thải.

Thiết kế ao theo kiểu tuần hoàn. Nước ao nuôi sau khi thay được chảy sang ao nước thải; ở đây nước được lắng cặn một phần, sau đó được bơm sang ao lắng. Ở ao lắng cá rô phi hoạt hóa để có chất lượng tốt cung cấp lại cho ao nuôi. Trước khi nuôi, cần tiến hành các bước cải tạo và chuẩn bị ao theo đúng  tiêu chuẩn kỹ thuật.

Khi chuẩn bị ao nuôi cần đầm, nén kỹ hoặc lót bạt để chống rò rỉ nước. Mật độ cá rô phi ít nhất 4 - 5 con/m2, không cho cá ăn trong suốt quá trình nuôi. Cá rô phi được nuôi trong ao lắng ít nhất một tháng trước khi thả tôm giống để ổn định môi trường nước. Cấp nước từ ao lắng vào cung cấp cho hệ thống nuôi tôm đến khi mực nước đạt 1,2 - 1,5 m.

Khi cấp nước vào ao nuôi, dùng lưới chắn cá có kích thước mắt lưới 2a = 5mm. Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung nguồn nước từ ao lắng vào ao nuôi một tuần một lần. Sau khi cấp nước từ ao lắng vào hệ thống nuôi, cần bổ sung nước vào hệ thống ao lắng, để có thời gian cá rô phi hoạt hóa, để có nước đảm bảo chất lượng cung cấp cho ao nuôi tôm, theo thông tin từ Tạp chí Thủy sản Việt Nam. 

Thái Hà (Vietq)

Tăng năng suất cá kèo bằng phương pháp nuôi trên ruộng muối

Do đặc điểm cá kèo sống và thích nghi với mọi nguồn nước có độ mặn từ 0 - 40%, thích hợp nhất là 10 - 25%, nên việc nuôi xen canh sau thu hoạch muối phù hợp, giúp nông dân thu được năng suất cao.

Theo thông tin từ Hội nông dân, những năm gần đây phong trào nuôi cá kèo đang phát triển đều khắp các tỉnh ven biển ĐBSCL. Nhưng hiệu quả nhất là nuôi xen canh dưới chân ruộng sản xuất muối. Nuôi cá kèo theo mô hình này chẳng những cho năng suất cao mà còn cải tạo độ phì nhiêu của đất.

Nuôi cá kèo xen canh trong ruộng muối thì phải xử lý cho nước ra vào nhiều lần để hạ độ mặn. Với ao nuôi cá kèo, tốt nhất là làm hàng rào bằng nylon cao 0,5 - 0,6 mét để phòng cá kèo trượt đi khi có mưa to cũng như đề phòng cá lóc vào ao nuôi.

Trước khi thả giống phải xiết cạn đáy ao nuôi phơi nắng, bón vôi CaCO3 100 - 150 kg/ha và diệt cá tạp (chủ yếu cá bống tượng và cá lóc) bằng cây thuốc cá hoặc saponin, lấy nước vào thông qua lưới cước đạt độ sâu 25 - 30 cm là được. Sau 5 - 7 ngày, gây tảo bằng cách hòa tan 20 - 25 kg phân gà/ha với 5 kg phân urê và DAP tạt đều khắp ao nuôi (độ PH phù hợp là 7,5 - 8,5). Nếu không có phân gà thì dùng thay thế cám và bột đậu nành.

Giống cá kèo hiện chưa được sản xuất nhân tạo, nguồn giống chủ yếu là mua của ngư dân ven biển vớt hoặc kéo lưới ở bãi bồi ven biển hoặc trong rừng ngập mặn ven biển, nên kích cỡ không đồng đều. Mật độ thả giống tùy thuộc vào mô hình: nuôi quảng canh thì bình quân 8 - 10 con/m2, nuôi công nghiệp 40 - 50 con/m2. Thả giống vào lúc chiều mát để tránh sốc cá.

Việc nuôi cá kèo xen canh sau thu hoạch muối cho năng suất rất cao. Ảnh minh họa

Cá kèo chủ yếu ăn rong tảo, phù du trong nước và trong đất có nhiều bùn, hai tháng đầu không cần cho ăn thêm; muốn tăng nguồn thức ăn, thường xuyên cho nước vào và xử lý bằng cách bón phân (phân gà) để sinh rong tảo. Từ tháng thứ hai, cho ăn thêm cám hoặc thức ăn công nghiệp. Nếu nuôi công nghiệp mật độ dày thì nên tăng cường thức ăn công nghiệp dạng viên, tùy thuộc kích cỡ của cá.

Cá kèo ít xuất hiện bệnh (thời gian gần đây xuất hiện phình bụng do thức ăn có độ đạm cao và thừa thức ăn) lại mau lớn, sau 4 - 6 tháng nuôi (tùy loại giống), có thể thu hoạch được 40 - 50 con/kg. Nuôi quảng canh nếu chăm sóc, quản lý tốt sẽ cho năng suất 500 - 700 kg/ha, còn nuôi công nghiệp cho năng suất tới 6 - 8 tấn/ha.

Tại Bạc Liêu, mô hình nuôi cá kèo trên ruộng muối rất thành công, cho nông dân năng suất và thu nhập cao. Bạc Liêu thả nuôi cá kèo trên ruộng làm muối tập trung ở huyện Đông Hải, Hòa Bình và thị xã Bạc Liêu.Với giá cá kèo thương phẩm trên thị trường trên 100 ngàn đồng/kg, nông dân cho lãi khá cao.

Đặc biệt, gần đây giá cá kèo thương phẩm trên thị trường liên tục tăng mạnh, trong khi đó nguồn cung vẫn không đủ cầu, do đó nhiều người ồ ạt đầu tư sang nuôi cá kèo. Việc bà con diêm dân mạnh dạn sản xuất luân phiên một vụ cá kèo trên ruộng muối mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần cải thiện cuộc sống kinh tế gia đình đáng kể.

Để việc nuôi cá kèo thật sự có hiệu quả, góp phần vào sự đa dạng hóa các loại mặt hàng thủy sản trên cùng một diện tích sản xuất, tỉnh Bạc Liêu chỉ đạo ngành chức năng cần quan tâm tới việc nghiên cứu, sớm hoàn chỉnh và đưa vào ứng dụng quy trình sinh sản nhân tạo, giúp người nuôi chủ động nguồn giống, mở rộng diện tích sản xuất, theo tin tức từ TTXVN. 

Thái Hà (Vietq T/h)

Tôm hùm nuôi trên… cạn cho tỷ lệ sống cao bất ngờ

Công nghệ nuôi tôm hùm trên bờ, trong bể xi măng đã phát triển ở nhiều nước như Úc, Mỹ, Singapore, Nhật Bản... và mô hình này cũng đã xuất hiện khởi điểm tại tỉnh Khánh Hòa nước ta.

Một hộ nuôi tôm theo phướng pháp mới tại TP Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà cho biết, theo mô hình mới này, số tiền lãi thu được từ tôm hùm cao hơn hẳn cách nuôi truyền thống trong lồng, bè.

Sau khi thả giống, mỗi con nặng từ 20-30g, sau 3 tháng, trọng lượng mỗi con lên tới trên 200g và tỷ lệ hao hụt tôm khá lý tưởng - dưới 10%.Theo tài liệu từ nước nuôi tôm hùm trên cạn phát triển như Singapore thì để tôm đạt được trọng lượng 300g chỉ mất khoảng thời gian 4-6 tháng. Điều đáng lưu ý là hiện nay, kích cỡ tôm hùm 300g vẫn được thị trường chấp nhận với giá dao động 30 - 40 USD/kg (khoảng 700 - 800 ngàn đồng/kg).

Nuôi tôm hùm trong bể xi măng cho năng suất khá cao. Ảnh minh họa

Vì nuôi trong thời gian ngắn nên sẽ hạn chế nhiều rủi ro, thời gian thu hoạch nhanh, hơn nữa lại có thể thực hiện từ 2 - 3 vụ/năm. Những người nuôi tôm hùm trong bể nếu không thể bán dạng tôm tuyển cho những hộ nuôi lồng vẫn có thể sản xuất tôm hùm dạng công nghiệp và bán tôm kích cỡ nhỏ, ngắn ngày và quay vòng để tăng thu nhập.

Không thể so sánh hiệu quả kinh tế của tôm hùm nuôi bể với tôm hùm bông nuôi lồng. Nhưng nếu so sánh cả về thời gian nuôi và giá thương phẩm đang được các ngư dân lựa chọn thả nuôi trên lồng hiện nay thì phương pháp nuôi tôm hùm trên cạn khá ưu việt.

Cụ thể, tôm đang được ngư dân đang nuôi theo phương pháp truyền thống phải nuôi từ 10 -12 tháng, tôm đạt trọng lượng khoảng 500  700g. Còn tôm nuôi hùm trong bể, chỉ 4-6 tháng đã cho thu hoạch với giá tương đương.

Điều đáng lưu ý là phương pháp nuôi này quá mới mẻ đòi hỏi người nuôi đầu tư thiết bị và áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật nuôi mới có kết quả khả quan. Tôm nuôi trên cạn cần được nuôi trong môi trường nước bảo đảm sạch. Bể nuôi tôm trong nhà được xây dựng kiên cố và phân thành từng ngăn nhỏ nuôi tôm, tôm giống phù hợp, phải có thiết bị tạo được dòng nước chảy tuần hoàn và khép kín. Có thể thả vào bể những ống nhựa lớn, cắt nhỏ thả xuống đáy bể để làm chỗ, hang trú ẩn cho tôm.

Tiến sỹ Nguyễn Thị Bích Thuý, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 3 cho biết: Phương pháp nuôi tôm trên cạn là một phương pháp nuôi khá tiên tiến. Thông thường, giai đoạn từ tôm giống (tôm trắng, tôm bò cạp) đến tôm tuyển (100- 200g) tỷ lệ chết của tôm giống lên tới 60 - 70%, thậm chí có lúc tới 80%. Nếu phương pháp nuôi cạn này được áp dụng thành công, tỷ lệ chết của tôm giống chỉ còn dưới 20% thì không những có hiệu quả thuyết phục về kinh tế mà còn rất có ý nghĩa về môi trường, về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản.

Theo phương pháp nuôi trên cạn, hệ thống lưu thông nước tuần hoàn trong bể nuôi tôm hùm là hai chiếc máy lọc chất bã và máy tuần hoàn nước, được vận hành 24/24.

Sau khi nước biển được bơm trực tiếp vào bể lắng, ở mỗi bể chứa 5m3 nước, bỏ vào bể 50ml dung dịch PH Stabilize, 24 giờ sau bỏ thêm 50ml dung dịch Conditioner để xử lý nước được trong, sạch khuẩn. Và mỗi lần thay nước, cho thêm 2cc dung dịch Mangrove để xử lý phòng bệnh nấm trên tôm. Chế độ ăn của tôm nuôi trên cạn cũng được chú ý hơn so với tôm hùm nuôi lồng.

Tôm được cho ăn 3 lần/ngày; thức ăn yêu cầu tươi sống, nếu là các loại sò, chỉ lấy ruột và bỏ vỏ, các loại cá cũng cần cắt bỏ đầu, vây nhằm hạn chế tối đã chất thải của thức ăn trong đáy bể. Trong trường hợp nhìn thấy thức ăn thừa hoặc chất thải thức ăn cần dùng máy hút xi phông để lấy ra khỏi bể.

Mô hình nuôi tôm hùm trong bể là một mô hình mẫu được đầu tư và quản lý kỹ thuật từ Công ty Esibiz (Singapore). Được biết, mô hình này đã được Công ty Esbiz nghiên cứu thành công trong vòng 5 năm và đã phát triển thành công công nghệ nuôi tôm hùm trong bể xi măng tại nhiều nước châu Á.

Nguyễn Vũ (vietq)

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mận cho năng suất cao nhất

Mận là cây ăn trái được ưa thích vào mùa hè và được trồng nhiều ở nước ta. Vì vậy, mọi người cần nắm vững kỹ thuật trồng cây mận để cho năng suất cao nhất, thu được nhiều lợi nhuận.

Mận là giống cây ăn trái được trồng nhiều nơi trên thế giới. Hoa, lá có mùi hương thơm dễ chịu. Nếu được trồng chăm sóc đúng qui trình kỹ thuật trồng cây mận sẽ cho hoa trái theo ý muốn, bán được giá cao nên có thể xem là cây xóa đói giảm nghèo cho một số bà con nông dân.

Kỹ thuật trồng cây mận đúng cách không những cho năng suất mà còn cho cả về chất lượng quả

Mật độ, khoảng cách

Khoảng cách trồng 5m hoặc 5 x 4m (400 - 500 cây/ha). Đất xấu trồng mau, đất tốt trồng thưa hơn. Ghép lên gốc đào, cây mọc khỏe tán to, cũng trồng thưa hơn khi ghép lên gốc mận.

Bổ hốc, đánh cây

Bổ hốc theo kỹ thuật thông thường và nên bổ sớm cho đất ải. Mận cũng như hồng là một cây rụng lá nên thời gian trồng thuận tiện nhất là tháng 12, 1 khi cây nghỉ Đông. Thời kỳ này có thể trồng rễ trần nghĩa là đánh cây lên, rũ hết đất.

Nếu có đất bùn ao tốt nhúng vào rễ bùn sau đó bó từng bó 10, 20 cây sau vài ngày trồng vẫn có thể sống 100%. Muốn trồng sống vào bất cứ thời gian nào trong năm nên ương cây trong bầu bọc polyetylen, 6 - 10kg đất, ghép khi cây còn ở bầu, bóc vỏ bỏ polyetylen khi trồng.

Cách trồng

Móc một hốc nhỏ ở giữa vị trí trồng. Rọc đáy túi đựng bầu. Đặt cây vào vị trí, và rọc một đường từ trên xuống để lấy túi đựng bầu ra. Lấp đất giữ chặt cây. Cắm cọc cố định cây (cột cây bằng dây nilon).

Kỹ thuật chăm sóc

Giữ ẩm: Sử dụng các vật liệu dễ tìm như rơm rạ, cỏ khô … đậy phủ xung quanh gốc để giữ ẩm. Tưới tiêu: Cung cấp nước cho cây thường xuyên nhất là ở thời kỳ mới trồng, và khô hạn kéo dài. Cây chuẩn bị ra hoa, cần giữ cho gốc cây khô ráo. Thời kỳ mang trái, cây rất cần nước để nuôi trái.

Cần phải bón phân, tưới nước, tỉa cành đúng thời điểm

Bón phân

Cần tham khảo thêm tài liệu và kinh nghiệm bón phân trong điều kiện canh tác thực tế. Phân hữu cơ: Hàng năm nên bón cho cây 5 - 10kg. Phân hóa học: Năm thứ nhất: Bón cho cây khoảng 500 gram phân NPK 16-16-8. Chia ra 4 - 5 lần bón trong năm.

Năm thứ hai: Bón gấp đôi lượng phân năm thứ nhất, chia ra 3 - 4 lần bón. Thời kỳ cho hoa trái: Bón 1,5 - 3kg phân NPK 20-20-15, chia ra làm nhiều lần bón. Thu hoạch xong có thể bón tiếp cho cây 0,5 - 1 kg phân NPK 20-20-15 cho cây nhanh chóng phục hồi.

Trừ sâu bệnh

Cây mận có khả năng chống sâu bệnh cao nên an toàn cho người sử dụng 

Trên núi cao, với điều kiện khí hậu thích hợp, nhất là về nhiệt, cây mận mọc khỏe, không có sâu bệnh đáng kể. Ở đây trồng giống mận chua, chống sâu sâu bệnh cũng khỏe, nên ít khi người ta bắt sâu phun thuốc. Nếu chăm bón tốt và nếu lại trồng những giống mận ngon quả to, sâu bệnh vẫn nguy hiểm. 

Thu hoạch

Mùa mận chín là tháng 5 - 6 ở đồng bằng, 7 - 8 ở miền núi. Xác định độ chín căn cứ vào màu sắc quả. Vị trí chuyển màu trước tiên là vết lõm ở đuôi quả nơi xa cuống nhất. Màu xanh nhạt dần chuyển sang vàng nhạt rồi vàng sẫm, đỏ hoặc tía tùy giống.

Hái xanh hai chín căn cứ vào mục đích sử dụng. Nếu để ăn tươi thì người ta hái sớm, nhiều ít tùy theo nơi sử dụng xa hay gần nơi sản xuất vì quả càng chín càng nhũn khó vận chuyển, và càng phải mang đi xa càng phải hái sớm khi mận còn hơi xanh. 

Bích Phượng (Vietq t/h)

Saturday, July 4, 2015

Kinh nghiệm vận chuyển cá giống

Tùy theo từng loại cá, kích thước cá, phương tiện vận chuyển mà ta chọn phương pháp vận chuyển cho phù hợp (kín hoặc hở) nhằm giảm tỷ lệ chết của cá. 

Đóng cá vào bao trước khi vận chuyển

1. Chuẩn bị 

1.1 Chọn thời điểm thích hợp khi vận chuyển 

Thông thường người vận chuyển cá giống thường chọn lúc thời tiết mát như buổi sáng, chiều mát hoặc ban đêm (đối với mùa hè). Trong điều kiện thời tiết vụ thu đông có thể vận chuyển cá giống cả ban ngày. 

Mục đích nhằm hạn chế tối đa quá trình hoạt động của cá, giảm quá trình hô hấp và trao đổi chất của cá. Vì vậy sẽ giảm được quá trình tiêu hao lượng oxy hòa tan trong nước khi vận chuyển. 

1.2 Giảm hàm lượng khí amoniac khi vận chuyển 

Khí amoniac sinh ra trong quá trình phân hủy các chất thải của cá và các chất hữu cơ có sẵn trong nước bởi các vi sinh vật yếm khí.  

Vì vậy khi cá thải phân ra ngoài thì các vi sinh vật này sẽ sử dụng oxy trong nước để phân hủy chất thải dẫn đến làm giảm nhanh lượng oxy hòa tan trong nước, đồng thời làm tăng lượng khí amoniac, do đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của cá khi vận chuyển. 

Vì vậy, cần phải tìm cách giảm hàm lượng khí amoniac bằng cách ức chế hoạt động của các vi sinh vật yếm khí trong quá trình vận chuyển cá giống. Cụ thể: 

- Phải dùng nước sạch khi vận chuyển cá giống. 

- Phải "luyện cá" từ 1 - 2 ngày, tức là cho cá nhịn đói để hạn chế tối đa các chất thải của cá khi vận chuyển. 

- Khi nhốt cá trong bồn hoặc túi vận chuyển phải có máy sục khí hoặc tạo dòng nước chảy nhẹ bằng máy bơm để tránh hiện tượng cá chết ngạt do thiếu oxy. 

- Trước khi vận chuyển nên "tắm" cho cá bằng dung dịch muối ăn nồng độ từ 2 - 3% (pha từ 2 - 3 kg muối ăn trong 100 lít nước sạch) trong thời gian từ 7 - 10 phút

Muối ăn vừa có tác dụng ức chế quá trình hoạt động của các vi sinh vật vừa có tác dụng phòng bệnh cho cá. 

2. Quá trình vận chuyển 

Thông thường có 2 phương pháp vận chuyển cá giống, đó là vận chuyển kín và vận chuyển hở. Tùy theo từng loại cá, kích thước cá, phương tiện vận chuyển mà ta chọn phương pháp vận chuyển cho phù hợp nhằm giảm tỷ lệ chết của cá. 

Cá giống trước khi vận chuyển phải được theo dõi, đánh giá về chết lượng. Cá phải khỏe mạnh, bơi lội nhanh thành đàn, toàn thân sáng bóng không có biểu hiện xây xát, không bị mất nhớt, không bị dị hình, không bị bệnh, kích thước cá phải đồng đều. 

2.1 Phương pháp vận chuyển kín 

Đây là phương pháp vận chuyển mà cả cá và nước không tiếp xúc với môi trường bên ngoài. 

Phương pháp này được áp dụng cho hầu hết các loài cá giống, cá hương, cá bố mẹ. Phương tiện vận chuyển thường là xe máy hoặc ô tô... 

Dụng cụ vận chuyển là các túi ni lông có bơm khí oxy, mỗi túi có thể tích từ 40 - 45 lít

Nếu túi không có đáy thì cần buộc gập để tạo đáy túi, khi buộc cần kèm theo ống dẫn bằng nhựa mềm dài từ 15 - 20 cm ở đáy túi, phòng khi lượng oxy trong túi giảm cần phải bơm thêm oxy vào trong túi. 

Sau đó đổ nước sạch vào trong túi và cho cá giống vào. Lượng cá giống vận chuyển trong mỗi túi phải phụ thuộc vào kích thước của cá giống. 

Nếu kích thước cá giống từ 1 - 1,5 cm thì nên đóng từ 3 - 4 kg cá/túi, nếu kích thước cá từ 3 - 4 cm thì chỉ nên đóng 2 - 3 kg cá/túi

Sau khi cho cá vào thì buộc chặt miệng túi không cho không khí thoát ra ngoài. Nếu khoảng cách vận chuyển đi xa thì cần bơm thêm không khí qua ống nhựa ở đáy túi. 

Lưu ý: Đối với phương pháp vận chuyển này thì thời gian vận chuyển không nên quá 7 giờ

2.2 Phương pháp vận chuyển hở 

Là phương pháp vận chuyển mà cả cá và nước tiếp xúc trực tiếp với môi trường không khí bên ngoài. 

Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho quãng đường vận chuyển ngắn (dưới 20 km) với lượng cá giống ít và chủ yếu để vận chuyển cá bố mẹ. 

Dụng cụ vận chuyển thường là xô, chậu, sọt có lót ni lon và có trang bị hệ thống sục khí. 

Lưu ý: Trước khi thả cá giống xuống ao cần ngâm túi cá xuống dưới nước ao khoảng 15 - 20 phút để cá không bị sốc do chênh lệch nhiệt độ giữa nước ao và nước trong túi cá khi vận chuyển. 

Sau đó mở miệng bao cho nước ngoài ao chảy vào túi rồi từ từ cho cá bơi ra ngoài ao. Vào mùa hè, nên thả cá lúc trời mát vào buổi sáng từ 6 - 8 giờ, buổi chiều từ 16 - 18 giờ hoặc thả cá vào ban đêm.

Phạm Văn Phú (nongnghiep.vn)

Không nên phun 2,4D cho lúa trước thu hoạch

Tôi nghe nói khi lúa sập ở giai đoạn gần thu hoạch phun thuốc trừ cỏ 2,4D giúp lúa không bị mộng, lép hạt, đảm bảo năng suất, chất lượng có đúng không? Nhờ Bạn Nhà nông tư vấn. Nguyễn Văn Bé (TX Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)

Ảnh minh họa

Anh Bé thân mến, việc phun thuốc trừ cỏ 2,4D giúp lúa không bị mộng, lép hạt đảm bảo năng suất, chất lượng như anh đã nghe là hoàn toàn không đúng và tuyệt đối không được làm. Bởi trong các sản phẩm 2,4D dùng làm thuốc trừ cỏ có chứa một lượng chất chlorophenol. 

Chất này có mùi hôi nồng rất khó chịu, ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe con người và môi trường sống. 

Thuốc trừ cỏ 2,4D được phát minh từ năm 1945 tại Mỹ, có tác dụng diệt rất tốt các loài thuộc nhóm cỏ lác và cỏ lá rộng. Hiện nay, một số nông dân ở ĐBSCL đã lạm dụng việc sử dụng thuốc trừ cỏ 2,4D cho lúa giai đoạn gần thu hoạch để tăng năng suất, chất lượng... 

Nhưng, thực chất năng suất lúa hoàn toàn không tăng như người dân tưởng. Ngược lại rất nguy hiểm sức khỏe vì lượng thuốc bám dính trên hạt lúa chưa phân hủy hết và sẽ bám dính vào hạt gạo khi xay xát.

Lúa ở những ruộng có phun thuốc 2,4D sẽ không thể sử dụng làm giống cho vụ sau được vì phôi nhũ sẽ nhanh chết khi vỏ trấu bị nứt ra. Mặc dù các cơ quan chức năng đã nhiều lần khuyến cáo không nên phun thuốc 2,4D trên lúa gần chín, nhưng hiện vẫn còn một số người không tuân thủ.

Bạn nhà nông (Báo Vĩnh Long)

Khắc phục hiện tượng mùi tàu phát triển chậm

Cây mùi tàu có giá trị kinh tế cao, được bà con nông dân ở một số địa phương gieo trồng luân canh trên đất lúa.

Ảnh minh họa

Tuy nhiên, hiện nay cây mùi tàu đang sinh trưởng phát triển chậm.

Cây mùi tàu có thể gieo trồng quanh năm, nhưng bà con nông dân thường gieo từ tháng 10 năm trước đến đầu tháng 2 năm sau để phù hợp với điều kiện nhân lực thu hoạch và yêu cầu của thị trường. Thời gian chiếm đất mỗi vụ từ 16 - 18 tháng. Lượng hạt gieo cao, mật độ dày hơn nhiều để vạch vén thu cắt cả cây cho nhanh, thay vì phải bóc tỉa từng tàu như trước đây. Giàn mái che cũng được cải tiến bằng lưới nilon đen mỏng căng cho nhẹ. Hiện nay, loạt gieo đầu mới được thu cắt từ 1 - 2 lượt, còn loạt gieo sau chưa thu hoạch.    

Nguyên nhân cây phát triển chậm: Do thời tiết nắng nóng, nhiệt cao, biên độ nhiệt ngày đêm thấp và gió tây nhiều. Mưa bão số 1 gây ngập úng, xô mái giàn và xiêu đổ cột mái nilon nên càng ảnh hưởng đến quá trình hô hấp nhằm tạo năng lượng cho việc hình thành sinh khối chất xanh. 

Biện pháp khắc phục: 

- Sau khi tiêu thoát nước kịp thời, sau từ 10 - 15 ngày, cần tạm dừng việc bón phân thúc qua đường rễ và thay bằng việc phun phân bón lá siêu kali 1 lần ở nồng độ từ 20 - 25 gram, pha với từ 12 - 16 lít nước, phun đều cho từ 6 - 8 thước vào lúc chiều mát không mưa.

- Chằng chống, đỡ lại cột giàn bằng dây chắc và 1- 2 cọc phụ, lợp lại nilon cho kín mái.

- Đề nghị cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và huyện phối hợp với chính quyền địa phương đầu tư kinh phí làm điểm việc nâng cao mái giàn và lợp chồng 2 lần lưới nilon (loại mỏng đang dùng) để giảm nắng nóng nhằm có thể sử dụng cho vụ sau.

KS Nguyễn Hữu Vân (Báo Hải Dương)