This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Tuesday, May 12, 2015

Quản lý sâu đục thân trên vườn cây ăn trái (Video)

Sầu riêng, xoài là những loại trái cây có giá trị kinh tế cao, được trồng chuyên canh với diện tích lớn ở các tỉnh phía Nam. Vài năm trở lại đây, diễn biến của tình hình dịch hại trên các loại cây trồng này ngày càng phức tạp, gây ảnh hưởng đến năng suất cũng như tuổi thọ của vườn cây. Một trong số đó là loài sâu đục thân thuộc họ xén tóc...


Xem video chương trình "Khoa học nông nghiệp: Quản lý sâu đục thân trên vườn cây ăn trái" được thực hiện bởi THVL:


Friday, May 8, 2015

Copefloc - nuôi tôm bằng thức ăn tự nhiên

Đây là mô hình nuôi tôm mới tại Thái Lan, được phát triển trên cơ sở công nghệ Biofloc; ưu điểm nhất là dùng hạt floc và thức ăn tự nhiên làm thức ăn chính cho tôm nuôi, không dùng thức ăn công nghiệp.

Ưu điểm vượt trội

Công nghệ Copefloc, cũng như Biofloc, có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, Ammonia tự do trong nước được chuyển hóa thành protein trong sinh khối vi sinh vật dị dưỡng, tập hợp thành các hạt Biofloc lơ lửng trong nước. Thứ hai, nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm rủi ro lây nhiễm bệnh do không phải thay nước. Thứ ba, không gây ô nhiễm môi trường; giảm chi phí thức ăn, thuốc, hóa chất. Tôm tăng trưởng nhanh.

Khác công nghệ Biofloc, công nghệ Copefloc thiết kế vận hành đơn giản và hoàn toàn không sử dụng thức ăn công nghiệp, có thể đưa tôm cỡ PL10 - 12 trực tiếp vào ao nuôi mà không cần giai đoạn ương 30 ngày.

Hệ thống nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ Copefloc có nhiều ưu điểm hơn so với những hệ thống ứng dụng công nghệ đang phổ biến hiện nay, như: kỹ thuật thay nước định kỳ, tuần hoàn nước sử dụng hệ thống lọc sinh học hay lọc cơ học. Giải pháp thay nước thường kéo theo việc thải chất ô nhiễm ra môi trường, tốn nước sạch, tăng chi phí năng lượng, như việc chạy máy bơm và tăng nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh từ nguồn nước cấp. Vận hành hệ thống lọc sinh học và lọc cơ học đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp, chi phí vận hành và năng lực kỹ thuật cao. Tiến bộ hơn hai phương pháp trên hệ thống Copefloc vừa có khả năng cải thiện môi trường vừa tạo nên sinh khối thức ăn tự nhiên, góp phần tái sử dụng dinh dưỡng từ chất thải của động vật thủy sản; vận hành cũng khá đơn giản. Nuôi theo công nghệ Copefloc hoàn toàn không sử dụng hóa chất hay kháng sinh, vì vậy nâng cao được chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Nguồn thức ăn cho tôm nuôi

Thức ăn được sử dụng trong hệ thống này chủ yếu là các hạt biofloc và thức ăn tự nhiên (copepod, động vật thân mềm, giun nhiều tơ, giáp xác nhỏ…). Các loại thức ăn này đều giàu dinh dưỡng, rất tốt cho sự sinh trưởng của tôm. Copepod, động vật nguyên sinh, một số loài giáp xác nhỏ, là những thức ăn rất quan trọng cho tôm cá, đặc biệt trong giai đoạn còn nhỏ. Còn các hạt biofloc bản chất là sự kết dính tảo, nguyên sinh động vật, phân tôm, chất thải hữu cơ được chuyển hóa và có hàm lượng protein cao hơn hàm lượng protein trong thức ăn công nghiệp.

Sơ đồ chuỗi thức ăn trong quy trình nuôi tôm theo copefloc

1: Phân thải của tôm, cá nuôi cung cấp nguồn dinh dưỡng cho vi khuẩn và thực vật phù du

2: Vi khuẩn, thực vật phù du trở thành thức ăn cho động vật phù du hoặc động vật đáy

3: Động vật phù du làm thức ăn cho giáp xác nhỏ, động vật phù du khác

4: Động vật phù du, giáp xác nhỏ, động vật đáy làm thức ăn cho tôm, cá nuôi   

Nguồn thức ăn tự nhiên được gây nuôi sau khi nước được lắng lọc trong ao lắng một thời gian, cấp vào bể nuôi với độ sâu 1,2 - 1,5 m; làm giàu ôxy bằng cách sục khí mạnh, trong 24 - 48 giờ. Dùng cám gạo lên men với probiotic cho vào túi vải thưa, hình ống, cho xuống ao nuôi, với lượng 300 kg/ha. Tiếp tục quạt nước, sục khí trong 7 - 10 ngày. Gặp môi trường thuận lợi, thức ăn tự nhiên trong ao nuôi sẽ phát triển.

Dung dịch biofloc mồi được chuẩn bị bằng cách lên men hỗn hợp được pha theo tỷ lệ: 1 lít nước sạch, 10 g bột ngũ cốc (bột cá, bột đậu nành…), 10 ml dịch nuôi cấy chủng vi khuẩn thuần chủng Baccilus subtilis mật độ 106 vi khuẩn/ml. Quá trình lên men được thực hiện trong điều kiện sục khí mạnh trong 48 giờ, pH duy trì 6,0 - 7,2 bằng cách bổ sung dịch đệm pH, ở điều kiện nhiệt độ 25 - 280C. Đến khi vi sinh vật phát triển mạnh sẽ hình thành các bóng khí lớn nổi trên các bề mặt biofloc mồi là có thể bổ sung vào ao nuôi.

Vận hành

Hệ thống nuôi theo công nghệ Copefloc không tạo chất thải, vì vậy không cần hệ thống máy bơm gom tụ chất thải; thay vào đó cần bố trí hệ thống sục khí cung cấp nhiều ôxy cho tôm nuôi, vi sinh vật, thức ăn tự nhiên trong ao nuôi. Nuôi theo công nghệ Copefloc sử dụng hệ thống sục khí đáy được thiết kế bằng cánh khoan các lỗ nhỏ trên ống nhựa PVC, khoảng cách giữa các lỗ 25 - 30 cm, tạo thành mạng lưới với diện tích bao phủ khoảng 40% tổng diện tích ao nuôi, thay vì không dùng hoặc dùng rất ít hệ thống quạt nước.

Mật độ nuôi ít hơn 50 con/m2. Ở mật độ nuôi này tôm phát triển tốt, hoàn toàn sử dụng thức ăn tự nhiên.

Trong quá trình nuôi không cần cho ăn; thay vào đó người nuôi phải quản lý, duy trì quần thể và mật độ thức ăn tự nhiên, lượng biofloc trong ao nuôi.

Thu mẫu và tính toán mật độ copepod hằng ngày bằng cách dùng xô, chậu lấy 50 - 100 lít nước ở các vị trí khác nhau trong ao nuôi. Sau đó lọc qua lưới phiêu sinh, kích thước mắt lưới 50 - 70 µm, cho vào lọ 60 ml, cố định bằng formol 2 - 4%. Dùng pipet lấy 1 ml và đếm dưới kính hiển vi ở độ phóng đại 10X, 40X, bằng phương pháp di chuyển buồng đếm theo tọa độ. Từ đó tính toán được mật độ của copepod và điều chỉnh lượng chế phẩm sinh học bón xuống ao làm thức ăn cho copepod và sinh vật trong ao nuôi.

Để kích thích sự hình thành và duy trì tính ổn định của biofloc, cần bổ sung biofloc mồi và bổ sung nguồn cacbon vào hệ thống nuôi. Có rất nhiều nguồn cung cấp cacbon: bột ngũ cốc, mật rỉ đường, bột bã mía, rơm, cỏ. Duy trì hàm lượng biofloc < 1 ml/l trong suốt chu kỳ nuôi. 

Xét theo nguyên lý hoạt động thì Copefloc là công nghệ nuôi được vận hành khá đơn giản, hoàn toàn khép kín, không tạo ra chất thải; đây được đánh giá là mô hình nuôi an toàn, ít rủi ro. Điểm quan trọng của quy trình này là kỹ thuật tạo và duy trì nguồn thức ăn cho tôm trong suốt vụ nuôi.

Nguyễn Nhung/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Xử lý cá rô phi đơn tính bằng 17 Alpha Methyltestosterone

Xử lý cá rô phi đơn tính đực bằng 17 alpha Methyltestosterone hiện nay là phương pháp phổ biến, cho tỷ lệ đực cao và ổn định, chi phí đầu tư thấp và thời gian thực hiện ngắn so với các phương pháp còn lại.

1. Phối trộn thức ăn

Thức ăn nuôi cá đơn tính đực trong thời gian 21 ngày là thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hoá giới tính đực.

Công thức phối trộn 1 kg thức ăn trộn hoóc môn có khả năng hoạt hóa như sau:

+ Vitamin C: 10g

+ Bột cá nhạt mịn: 1000 g

+ 60 mg 17 alpha Methyltestosterone

+ Cồn Etanol 0,3 - 0,5 lít 960

Cách trộn thức ăn hoạt hoá

10 gram Vitamin C được trộn đều với 1.000 g bột cá nhạt mịn sau đó làm ướt đều bằng 0,3 - 0,5 lít Etanol 960 đã hòa tan 60 mg 17alpha-Methyltestosterone. Sấy ở nhiệt độ 45 - 500C hoặc phơi khô và bảo quản ở nơi khô ráo nhưng không quá hai tuần.

Ảnh: Vũ Mưa 

2. Xử lý cá bột

2.1. Chuẩn bị ao giai

Ao cắm giai để xử lý cá bột được chuẩn bị cũng như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng không gây màu nước ao, không bón phân vô cơ hoặc hữu cơ.

Độ sâu của ao từ 1,2 - 1,5 m.

2.2. Giai xử lý

Giai dùng để xử lý cá bột là giai mau có cỡ mắt lưới 1 mm.

Diện tích của giai tối thiểu là 0,81 m2 và tối đa là 5,4 m2.

Kích cỡ của giai có thể là: 0,9 x 0,9 x 0,9 (m) hoặc: 1,8 x 3,0 x 0,9 (m).

Độ sâu ngập nước của giai là 0,6 m.

2.3. Mật độ cá bột khi xử lý

Mật độ tối thiểu của cá bột xử lý là 10 con/lít và tối đa là 15 con/lít. Thời gian xử lý là 21 ngày. Với giai có diện tích 0,81 m2 ta có thể thả được 5.000 - 7.500 cá bột/giai. Giai có diện tích 5,4 m2 ta có thể thả được 30.000 - 45.000 cá bột/giai.

2.4. Thời gian xử lý

Thời gian xỷ lý cá bột là 21 ngày

2.5. Chăm sóc cá và quản lý

Cá bột được cho ăn bằng thức ăn có khả năng đực hóa giới tính đực. Lượng thức ăn hàng ngày được tính như Bảng:



Để xác định được lượng thức ăn cần thiết cho cá bột đang được xử lý cân mẫu vào ngày thứ 5 của mỗi chu kỳ cho ăn, phải cân mẫu tối thiểu khối lượng của 200 cá thể, mẫu phải được cân bằng cân điện tử để đảm bảo độ chính xác. Ta có thể tính được lượng thức ăn theo công thức sau:

A= (p x k ) x q / 200

Trong đó: A: là khối lượng thức ăn của lần sau.

P: khối lượng của mẫu.

K: số lượng cá thả ban đầu.

Q: tỷ lệ % thức ăn theo quy trình.

Trong thời gian xử lý đơn tính, 10 ngày thay giai một lần để đoản bảo độ thông thoáng, tránh trường hợp tảo bám vào giai làm hạn chế lưu thông nước trong và ngoài giai. Khi cá thiếu ôxy sẽ kém ăn và hao hụt lớn, tỷ lệ chuyển giới tính sẽ không cao.

Thường xuyên theo dõi bệnh cá vì nuôi cá ở mật độ cao thường hay mắc bệnh ký sinh trùng (như trùng bánh xe, sán lá đơn chủ) để có biện pháp xử lý kịp thời.

Sau khi cá bột được nuôi đủ 21 ngày (gọi tắt là 21 ngày tuổi) đưa cá ra ương nuôi tiếp trong ao đất hoặc trong giai bằng thức ăn tổng hợp bình thường (không có hoóc môn 17 alpha Methyl Testosterone ).

3. Kết quả

Áp dụng quy trình công nghệ này tỷ lệ sống cá 21 ngày tuổi 70 - 75%. Kích cỡ đạt 15.000 - 10.000 cá thể/kg. Tỷ lệ đực trong quần đàn đạt trên 95%.

ThS Xuân Kỳ/ Tạp chí Thủy sản Việt Nam

Biện pháp nâng tỷ lệ sống trong ương cá tra từ bột lên hương

Hiện nay, tỷ lệ sống khi ương cá tra từ bột lên hương thường chỉ đạt trung bình từ 10 - 15%. Tìm ra nguyên nhân và có biện pháp để nâng cao tỷ lệ sống khi ương cá tra sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

Nguyên nhân

1. Cải tạo ao

Khi cải tạo ao, người nuôi không thực hiện quy trình gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên là luân trùng hoặc trứng nước - là khâu đầu tiên trong chuỗi thức ăn của cá tra. Do cá bột khi hết noãn hoàn thì tìm thức ăn tự nhiên để ăn, do môi trường mới cải tạo không có thức ăn hoặc người dân sử dụng thức ăn tự chế, thức ăn công nghiệp không phù hợp nên cá bị suy dinh dưỡng, cá ăn thịt lẫn nhau, dịch bệnh xảy ra và làm giảm tỷ lệ sống.

2. Quản lý môi trường

Khi thả cá bột để ương, người nuôi sử dụng thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp quá nhiều trứng nước trong ao phát triển vượt mức cho phép, không quản lý kịp. Khi trứng nước nhiều sẽ cạnh tranh ôxy với cá tra bột làm cá thiếu ôxy ngộp và chết không rỏ nguyên nhân, nhất là giai đọan cá chưa phát triển hoàn chỉnh cơ quan thở khí trời.

Ao được thiết kế hệ thống sụt khí đáy ao 

Biện pháp

1. Chuẩn bị ao:

Ao có điện tích 1.000 m2 trở lên, độ sâu 1,2 - 1,5 m.

Tát cạn, diệt cá tạp.

Sên vét bùn đáy ao.

Bón vôi: 7 - 10 kg/100 m2

Bố trí hệ thống sụt khí đáy ao.

Lấy nước vào ao từ từ qua lưới lọc từ 0,7 - 0,8 m.

Thả giống trứng nước gây thức ăn tự nhiên (Moina).

Tiến hành kiểm tra môi trường và thả cá bột, nên thả vào buổi sáng.

2. Mật độ:

Mật độ thả trung bình: 400 - 500 con/m2.

Sau 3 - 4 ngày thả cá bột, lấy nước vào ao tới mức phù hợp 1 - 1,2 m.

3. Thức ăn:


Cho cá ăn trứng nước sống và sạch trong 12 ngày đầu.

Trứng nước được rửa sạch bằng nước muối 5.

Lượng thức ăn cần cung cho cá bột theo thời gian.

4. Quản lý môi trường

Các chỉ tiêu môi trường cần kiểm soát:

O2, pH: ngày 2 lần

NH3H2S: tuần/lần

Trong đó, hệ thống sụt khí đáy ao rất quan trọng, nó giúp giải phóng đi một phần lượng khí độc có từ đáy ao ra ngoài, giúp cho môi trường ao tương đối ổn định. 

Phạm Hoàng Dũng (TT Khuyến nông - Khuyến ngư Đồng Tháp)

Thursday, May 7, 2015

Khuyến cáo 3 biện pháp phòng trừ siêu nhân gây hại rau, hoa

Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng vừa hoàn thành khảo nghiệm 3 biện pháp khuyến cáo cho nông dân phòng trừ loài côn trùng chân đốt (siêu nhân) gây hại bộ rễ cây rau, hoa các loại ở vùng nông nghiệp Đà Lạt.

Ảnh chụp “siêu nhân” qua kính hiển vi do Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng cung cấp

Theo đó, với biện pháp canh tác cần phải cày sâu đất thật kỹ, xử lý vôi bột với liều lượng 200- 300kg/sào, chọn giống cây trồng có bộ rễ sinh trưởng khỏe mạnh, bón phân cân đối, luân canh với những cây trồng họ đậu, cà rốt, hành tây, hành lá… 

Tiếp theo với biện pháp sinh học gồm sử dụng thuốc Biosun 123 (Paecilomyces + Metarhizium + Biauverie Bassiana + Bacillus  thuringiensis) rải đều vào đất (5kg/sào) trước khi xuống giống cây trồng hoặc sử dụng chế phẩm nấm xanh (2kg/sào) phun vào gốc cây ngay sau khi trồng. 

Cuối cùng là áp dụng các biện pháp hóa học như: sử dụng thuốc Basamid Granular 97MG (Dazomet) với 50kg/sào để xông hơi, khử trùng đất; luân phiên sử dụng các loại thuốc phòng trừ siêu nhân vào buổi chiều gồm: Oshin 20WP (Dinotefuran), Actara 25WG (Thiamethoxam), Prevathion35WG (Chlorantraniliprole)…

Vũ Văn/ Báo Lâm Đồng

Tuesday, May 5, 2015

Diệt hến, vẹm trong ao tôm

Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm bằng cách: Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật.  

Vẹm thường xuất hiện nhiều trong ao tôm

Các loài hai mảnh vỏ (hến, vẹm, trai, hàu…) thường được tìm thấy trong ao nuôi tôm và các kênh dẫn nước ở giai đoạn ấu trùng có tiêm mao sống phù du (veliger). 

Chúng ăn tảo bằng cách lọc cơ thể thông qua các tiêm mao. Khi quần thể các loài này phát triển quá mức trong ao tôm sẽ làm giảm mật độ tảo, làm tăng độ trong của nước ao. Cạnh tranh thức ăn, oxy hòa tan với tôm. 

Hấp thụ nhiều vi khoáng, đặc biệt là canxi carbonate (CaCO3) để duy trì và phát triển vỏ, làm lượng khoáng chất trong ao, nhất là canxi bị mất đi. Độ kiềm của nước giảm mạnh làm tôm bị mềm vỏ và có thể gây chết, đồng thời còn làm tôm chậm tăng trưởng, tăng tỷ lệ phân đàn. Là nguồn mang nhiều mầm bệnh có thể lây truyền sang tôm. 

Phòng ngừa các loài hai mảnh vỏ gây hại trong ao tôm bằng cách: Cải tạo ao nuôi hút bùn, rải vôi và phơi ao, lấy nước qua túi lọc, diệt tạp, diệt khuẩn đúng kỹ thuật. Cần có ao lắng xử lý nước kỹ trước khi lấy nước vô ao nuôi. Theo các nhà khoa học, việc phòng ngừa hến vẹm, trai… xâm nhập vào ao nuôi sẽ hiệu quả và ít tốn kém hơn là xử lý. 

Biện pháp diệt hến, chem chép, vẹm trong ao nuôi tôm bằng sản phẩm TRIHO 05 hay OSCIL ALGA 08. 

Cải tạo: 2 lít/1.000 m3 nước. 

Đối với tôm nuôi trong ao: Tôm trên 10 ngày tuổi sử dụng 0,8 lít/1.000 m3 nước. Còn tôm trên 1 tháng tuổi sử dụng 1,5 lít/1.000 m3 nước. Dùng từ 18 - 21h. Nếu thấy tôm bị yếu nên dùng trước Yucado 100% Natural/ VS Yuca trước 1 - 2 giờ hay San Anti Shock trước 6 giờ, kèm theo chạy quạt lấy oxy cho tôm nuôi trong ao. Nếu dùng liều cao, sau 36 giờ đồng hồ nên dùng TOXINPOND+ để tôm khỏe.

LHV/ nongnghiep.vn

Kiến vàng trừ sâu hại cây ăn quả

Kiến vàng là nhóm côn trùng có ích có khả năng khống chế và tiêu diệt nhiều loại côn trùng gây hạ

Tổ kiến vàng 

Trong thực tế sản xuất, tại các vườn cây ăn quả phát sinh nhiều loại côn trùng gây hại cây trồng. Người nông dân đã sử dụng thuốc BVTV để phun trừ nhiều lần dẫn đến làm giảm quần thể thiên địch, trong đó có kiến vàng.

Kiến vàng là nhóm côn trùng có ích có khả năng khống chế và tiêu diệt nhiều loại côn trùng gây hại, chúng sống theo bầy đàn, trong tổ kiến vàng bao gồm kiến thợ lớn, kiến thợ nhỏ, kiến đực và kiến chúa. 

Kiến vàng hiện diện quanh năm trong vườn cây ăn quả với mật số rất cao, tuy nhiên mật độ có biến động qua các tháng trong năm, tổ kiến vàng xuất hiện nhiều nhất vào đầu mùa mưa. 

Kiến vàng có khả năng khống chế sự bộc phát sâu vẽ bùa, rầy mềm, rệp sáp và các loại nhện gây hại, bọ xít cam, sâu bướm phượng, sâu đục vỏ trái trong vườn cây có múi. Kiến vàng còn tiêu diệt cả rầy chổng cánh, loài côn trùng môi giới truyền bệnh greening. 

Kiến vàng cũng thích sinh sống trên các vườn cây ăn trái khác như xoài, mận, ổi, đào… và một số cây trồng khác như cây trâm bầu và nhiều cây thân gỗ khác. 

Để bảo vệ vườn cây ăn quả có múi và tăng quần thể kiến vàng, nên trồng xung quanh vườn bằng các loại cây ăn trái và cây trồng khác mà chúng ưa thích, đó chính là cầu nối cho đàn kiến vàng xâm nhập vào vườn cây ăn quả tập trung. 

Thực tế cho thấy, những vườn cây ăn quả được nuôi kiến vàng thì mật độ sâu hại giảm, quả đẹp và bóng hơn so những vườn không nuôi và nhân thả kiến vàng. 

Tuy nhiên, kiến vàng không ăn được những loại sâu có lông, có gai và có tập tính tấn công con người khi động chạm đến môi trường sống của nó, vết cắn gây tổn thương nhẹ và cảm thấy đau buốt, vì khi cắn kiến vàng tiết ra dịch acid gọi là acid formic, không gây độc. Do vậy kiến vàng được xếp vào lớp côn trùng thuộc họ Formicidae. 

Điều kiện thời tiết như mưa to, gió lớn ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt kiến vàng. Mưa gió thường xuyên có thể làm rách tổ, gãy tổ và làm kiến trôi xuống đất. Vào mùa khô, mùa lạnh kiến vàng phát triển kém, có lẽ do cây cối bớt tươi tốt, một số cây rụng lá, ít sâu hại, kiến vàng thiếu thức ăn. 

Ngày nay, do yêu cầu sản xuất an toàn và chất lượng sản phẩm, nhiều địa phương đã nhân nuôi và thả kiến vàng trong vườn cây ăn trái để khống chế sự bùng phát của sâu hại. Tuy nhiên, để nhân nuôi kiến vàng cần phải có những kỹ thuật và hiểu biết cơ bản. 

Nên thu thập những tổ kiến lá còn xanh, có độ to trung bình 20 cm trở lên, cấu tạo bởi 2 lớp lá vì những tổ này dễ có kiến chúa hơn và thả ít nhất 2 tổ vào các ngã ba, ngã tư của cây gần ngọn. Có thể căng dây từ cây có kiến vào vườn để kiến di chuyển sang khi trong vườn có thức ăn cho chúng. 

Kiến hôi tiêu diệt kiến vàng nên trước khi thả kiến vàng vào vườn phải dùng bả để diệt kiến hôi. 

Kiến vàng mới và kiến vàng sẵn có trên cây cũng xung khắc nhau ác liệt, chúng sát hại lẫn nhau và trong lúc “chiến đấu” chúng tiết ra chất acid formic làm cho cành cây bị rám vỏ sau đó khô đi và bị chết, nên phải diệt kiến vàng cũ trong vườn trước khi thả kiến vàng mới. 

Nếu không diệt được hết kiến cũ trong vườn thì phải thả kiến mới từ trên xuống để kiến mới xua đuổi kiến cũ xuống dưới gốc cây. 

Để tránh kiến đánh diệt nhau, khi thu thập các tổ kiến cùng một cây và để chúng vào cùng một túi. Kiến chúa, kiến đực và kiến thợ đều có mật số cao nhất từ tháng 7 đến tháng 10 nên khoảng thời gian này thích hợp để thu thập tổ kiến và thả vào vườn mới. 

Cần phải cho kiến vàng ăn thêm bằng cách treo ruột gà, đầu cá… lên cây, nhất là trong mùa khô, mùa lạnh chúng thiếu thức ăn sẽ bỏ đi. 

Ngoài ra có thể để cơm nguội vào giá đỡ treo lên cây để cung cấp thêm thức ăn cho kiến. Chăm sóc và bảo vệ đàn kiến vàng bằng cách hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV, chỉ phun thuốc khi thật sự cần thiết, sử dụng thuốc ít độc đối với kiến và phun thuốc vào chiều mát, lúc đó kiến đã chui hết vào tổ. 

Không phun trực tiếp lên tổ và không phun liên tiếp nhiều ngày hoặc có thể làm dây căng dẫn dụ kiến ra các cây làm rào chắn xung quanh vườn thì tác động của thuốc hóa học đối với kiến không đáng kể. 

Nên sử dụng dầu khoáng để phun một số loài sâu hại phát sinh và gây hại phổ biến như sâu vẽ bùa, nhện, rệp sáp… sẽ không tác động đến mật số kiến vàng và đảm bảo an toàn thực phẩm.

Nguyễn Huy Khánh/ nongnghiep.vn

Phòng trị bệnh lợn nghệ

Bệnh lợn nghệ là các bệnh lây lan qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp hay qua đường sinh dục...

Bệnh lợn nghệ do xoắn khuẩn Leptospira SPP gây ra ở lợn, trâu, bò, chuột và lây sang cả người. Bệnh lây do chuột bệnh thải xoắn khuẩn theo nước tiểu gây ô nhiễm môi trường. Bệnh lây qua đường ăn uống, tiếp xúc trực tiếp và qua những vết xước trên da, niêm mạc hoặc qua đường sinh dục.


Triệu chứng đặc trưng của bệnh là sốt cao, vàng da, nước tiểu vàng. Bệnh gây chết với tỉ lệ cao ở lợn con và gây sảy thai ở lợn nái. Khi mắc bệnh, lợn bỏ ăn, kém vận động, nằm một chỗ, sốt nhẹ và có lúc sốt tới 40 - 40,50C, và sốt lên xuống ngắt quãng từ 3-5 ngày. Lợn bị ỉa chảy, sau đó xuất hiện những triệu chứng điển hình như da vàng, đái ra máu, nước tiểu vàng, sánh. Lợn xuất hiện triệu chứng thần kinh quỵ nửa thân sau, đi lại khó khăn run rẩy, phù đầu, phù mặt, kêu không ra tiếng, ti lệ chết khá cao. Nếu là lợn đực, bao dương vật sưng to, lợn gầy rộc, nếu là lợn cái chửa sẽ bị sảy thai hoặc thai chết lưu.

Phòng trị bệnh:

-Thực hiện tốt các khâu vệ sinh phòng dịch, tích cực tiêu diệt chuột và côn trùng. Tiêm vaccine xoắn trùng vào lúc lợn 410 tháng tuổi. Mỗi đợt tiêm 2 lần, cách nhau 7-10 ngày

- Dùng các kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin và các chế phẩm chứa Tylosin, Tiamulin sẽ có hiệu quả cao. Đặc trị bệnh lợn nghệ là sản phẩm AmTy0 tiêm liều 0,7 – 1ml/10 kg thể trọng; Neodexin 1ml/5 kg thể trọng. Dùng Penicillin 1 triệu UI kết hợp với Streptomycin 1g tiêm cho lợn 50 kg thể trọng. Dùng các loại kháng sinh Ampicilin 0,5g/40 kg thể trọng; Ampi – Kana 1g/40 kg thể trọng; Gentamicin 4% tiêm liều 1ml/6 kg thể trọng. Dùng các loại thuốc trợ lực Vitamin C, B1, B12. 

Nếu bị bệnh, dùng các loại kháng sinh nhóm Penicillin, Streptomycin, các chế phẩm chứa Tylosin hay Tiamulin theo chỉ dẫn trên nhãn thuốc, tiêm cho lợn ngày 2 lần trong 5 - 7 ngày. Có thể dùng chế phẩm Leptomycin điều trị cho kết quả cao. Cần kết hợp điều trị nguyên nhân cùng với trợ sức, trợ lực và giải độc cho lợn bằng cách tiêm thuốc bổ với các loại vitamin B1, B.Complex, B12... truyền dung dịch glucoza qua tĩnh mạch tai hay vào xoang bụng cho lợn. Bệnh được phát hiện sớm và điều trị các loại kháng sinh từ 5 - 7 ngày sẽ có hiệu quả cao.

Thanh Vân (Trang Trại Việt)

Friday, May 1, 2015

Phòng trừ rầy chổng cánh

Vào mùa mưa, khi các họ cây có múi (cam, quýt, bưởi...) bắt đầu ra đọt non hoặc trổ bông, là lúc rầy chổng cánh xuất hiện và gây hại, đây được xem là đối tượng côn trùng gây hại nguy hiểm nhất trên cây có múi nói chung. Chúng là vật trung gian truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh vàng lá Greening, một loại dịch bệnh nguy hiểm đã hủy hoại hàng loạt vườn cam, quýt, bưởi trong cả nước.

Vòng đời rầy chổng cánh

Rầy chổng cánh xuất hiện trên cây trồng khi có chồi non. (I.T)

Rầy chổng cánh có tên khoa học là Diaphorina citri Kuwayana, thuộc họ Psyllidae, bộ Homoptera. Rầy chổng cánh sinh trưởng và phát triển trong nhiều điều kiện nhiệt độ khác nhau, rầy trưởng thành có thể tồn tại được ở nhiệt độ lạnh -40C và cả vùng khí hậu nóng và khô. Thân hình chúng rất nhỏ, thành trùng dài từ 2 - 3mm, ít bay nhảy, có cánh dài, màu xám đen với vệt trắng lớn chạy từ đầu đến cuối cánh, lúc đậu cánh và bụng nhô cao hơn khỏi đầu tạo thành một đường xiên 30 - 450C. Vòng đời của rầy chổng cánh từ 28 - 32 ngày, có thể có từ 12 - 14 thế hệ/năm. Chúng trưởng thành sau vũ hóa 4 - 5 ngày sẽ bắt cặp. Con cái đẻ khoảng 200 - 800 trứng vào ban ngày, thời gian ủ trứng từ 3 - 7 ngày, ấu trùng có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 18 - 25 ngày.  


Rầy chổng cánh xuất hiện trên cây trồng khi có chồi non, nếu ký chủ chính như cam, quít, bưởi... không có chồi non thì rầy di chuyển sang các ký chủ phụ như nguyệt quế, cần thăng để duy trì mật số. Chúng tạo mật độ cao vào đầu mùa mưa (từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 7 đến tháng 12 trong năm) là lúc cây ra lá non và trổ hoa.

Biện pháp phòng trừ

Biện pháp canh tác:

+ Loại bỏ nguồn bệnh ra khỏi vườn; thường xuyên thăm vườn, nếu phát hiện có cây nhiễm bệnh cần loại bỏ ra khỏi vườn ngay lập tức.

+ Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để hạn chế sự tái xâm nhiễm của rầy chổng cánh từ nơi khác đến, vì gió cũng có ảnh hưởng đến sự phát tán và di chuyển của rầy trưởng thành; trồng xen ổi xá lỵ trong vườn trước khi trồng cam, quýt bưởi...  từ 2-6 tháng; trồng cây sạch bệnh, xử lý thuốc trước khi vận chuyển cây giống cũng như trồng cây ra vườn.

+ Tỉa cành và bón phân hợp lý để điều khiển các đọt non ra tập trung. Áp dụng các quy trình tỉa cành tạo tán theo kỹ thuật tiên tiến để cho cây được thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

+ Không nên trồng các loại cây hấp dẫn họ cam quýt như nguyệt quế, cần thăng, kim quýt gần vườn cây có múi.

+ Trồng cây thưa với khoảng cách (3 x 3m) đối với cam, quýt; (2,5 x 2,5m) đối với cây ổi, với tỷ lệ xen kẽ 1 cam: 1 ổi.

Biện pháp sinh học:

+ Tạo điều kiện cho thiên địch trong vườn phát triển như kiến vàng, các loại ong ký sinh, ấu trùng bọ rùa, ấu trùng bọ cánh lưới, ruồi ăn mồi. Ngoài ra còn có một số loài nhện hiện diện trong vườn cũng làm giảm mật số rầy chổng cánh đáng kể, trong đó có các họ Lilyphiidae, Therdiosomatidae, Thimisidae...

+ Phun dầu khoáng khi thấy đọt non ra dài từ 5mm – 10mm, khoảng 2% số cây trên vườn ra đọt non, mỗi đợt phun 2 lần, loại dầu khoáng có thể sử dụng là SK Espray 99EC theo liều lượng khuyến cáo. Lưu ý, trước khi phun dầu khoáng phải tưới nước cho vườn cây từ hôm trước.

+ Sử dụng các loại thuốc sinh học như Abamectin, Ebamectin, chất chiết xuất từ tỏi, dầu neem, nấm ký sinh, vi khuẩn Bacillus thuringiensis và các chất xua đuổi khác.

+ Dùng bẫy màu vàng để theo dõi rầy chổng cánh, mỗi vườn nên đặt ít nhất 5 bẫy để theo dõi (4 bẫy ở 4 gốc và 1 bẫy ở giữa vườn). Khi phát hiện rầy chổng cánh bay vào bẫy vàng thì sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trị.

Biện pháp hóa học:

+ Tưới thuốc lưu dẫn xung quanh gốc cây theo liều lượng khuyến cáo, như gốc Clothianidin, Thiamethoaxam, Imidacloprid.

Cách tưới: Dùng cào răng cưa, cào nhẹ lớp đất mặt xung quanh gốc cây, cách gốc 10cm, tới tầng rễ cám (rễ mềm); tưới thuốc BVTV xung lớp đất cào; ốp đất lại nơi vừa tưới.

+ Phun một số thuốc trừ rầy thông thường, lúc cây vừa ra đọt non.

Trồng xen ổi phòng rầy chổng cánh 

Chọn giống ổi: Ổi xá lỵ nghệ; nhân giống bằng chiết cành, ghép cành. 

Chọn giống cây cam quýt phải sạch bệnh. 

Trồng ổi trước 6 tháng và sau đó trồng cam quýt. 

Khoảng cách trồng ổi: 2,5 x 2,5m hoặc 3 x 3m. 

Khoảng cách trồng giống cam quýt 2,5 x 2,5m hoặc 3 x 3m; bưởi: 5 x 5m hoặc 6 x 6m. 

Chiều cao cây ổi thấp hơn cây cam quýt là 20 - 30cm. 

Vườn cây trồng xen phải thoát nước tốt. 

Thùy Dương (Trang Trại Việt)