This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thursday, April 9, 2015

Phòng trừ một số bệnh vi khuẩn hại lúa

Các bệnh vi khuẩn gây hại lúa thường rất khó trừ hoặc có trừ nhưng hiệu quả rất thấp. Bệnh thường có tính chất lây lan nhanh chóng, nhất là sau nhũng đợt mưa giông. 

Ruộng lúa bị nhiễm bệnh vàng lá do vi khuẩn

Chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm dùng nước vôi để phòng trừ một số bệnh vi khuẩn gây hại chủ yếu trên các trà lúa, phương pháp này đã được kiểm chứng trên thực tiễn đồng ruộng và mang lại hiệu quả. 

Bệnh vàng lá vi khuẩn 

Khi lúa bước vào giai đoạn đẻ nhánh, các ruộng trũng có nước ngập thường xuyên, ruộng có điều kiện thâm canh cao, bón phân không cân đối… thường bị bệnh vàng lá vi khuẩn gây hại nặng. 

Triệu chứng: Biểu hiện đầu tiên là ruộng lúa bị vàng từng chòm, nhất là ở những nơi trũng hoặc dọc theo mương dẫn nước. Sau đó bệnh lây lan rất nhanh khi gặp mưa và gió lớn hoặc sau những ngày bón thúc phân đạm. Bệnh bắt đầu từ chóp lá sau lan dần xuống mép lá và phiến lá. 

Vết bệnh có mầu vàng xỉn và các vệt mầu nâu nhạt chạy dọc theo gân lá. Khi bị nhiễm bệnh nặng, toàn ruộng lúa bị nhiễm vàng và lụi theo từng chòm. 

Biện pháp phòng trừ: 

- Trên những chân ruộng chủ động nước, khi lúa bị bệnh cần tháo cạn nước ra khỏi ruộng chỉ cần giữ cho đất ruộng đủ ẩm, sau 5 - 7 ngày lại tháo nước vào ruộng. 

- Dùng nước vôi loãng phun lên lá lúa. Nếu bệnh nhẹ chỉ cần phun một lần, bệnh nặng phải phun ít nhất 2 - 3 lần cách nhau 4 - 5 ngày. Khi gặp trời mưa nhiều phải phun cách nhau 3 ngày một lần. Nếu trời nắng ráo phun cách nhau 6 - 7 ngày một lần. 

Sử dụng các loại vôi tôi ngâm trong nước qua một đêm, sau khuấy lên, để lắng và lọc lấy nước trong để phun. Lượng vôi dùng từ 0,8 - 1,0 kg vôi đã tôi/bình 8 lít nước. Có thể pha nước vôi đặc rồi mang ra ruộng pha thêm nước cho đạt liều lượng để phun. 

Bệnh lép vàng vi khuẩn 

Triệu chứng: Bệnh thường xảy ra khi lúa trỗ bông, lúa đang ngậm sữa đến vào chắc. Bệnh lép vàng thường gây hại chủ yếu trên hạt, ngoài ra còn gây hại trên lá lúa. 

Các hạt bị hại nặng thường lép và cong xuống. Nếu tách hạt lúa bị bệnh lép vàng sẽ thấy hạt gạo bị thối đen và có mùi tanh. Bệnh thường xảy ra dọc theo bờ ruộng. 

Bệnh lép vàng lây lan rất nhanh, nhất là sau các đợt mưa có kèm theo gió lốc, khi bị bệnh nặng làm giảm năng suất lúa từ 10 - 20% 

Biện pháp phòng trừ: Khi phát hiện bệnh trên đồng ruộng cần dùng ngay nước vôi để phun, nên phun cách nhau 3 - 4 ngày (liều lượng và cách pha nước vôi như ở phần trên). 

Những chân ruộng đã có bệnh lép vàng của những năm trước cần phun nước vôi loãng trước khi lúa trỗ nhằm bảo vệ bông và hạt lúa. 

Bệnh cháy bìa lá lúa (bệnh bạc lá) 

Triệu chứng: Bệnh thường gây hại nặng trên các giống lúa lai và các giống lúa có chất lượng cao, bón phân không cân đối nhất là bón thừa đạm. 

Bệnh có thể xuất hiện từ giai đoạn mạ nhưng bệnh phát triển mạnh khi lúa bước vào giai đoạn đẻ nhánh đến trỗ chín. Tuy nhiên bệnh gây hại nặng và chủ yếu khi lúa bước vào giai đoạn đứng cái - làm đòng. 

Bệnh tạo lên những vết cháy màu xám hoặc vàng nâu, nâu đỏ chạy dọc theo hai bên mép lá, vết bệnh lan dần xuống dưới và gân chính của lá. Bệnh lây lan rất nhanh nhất là sau các đợt mưa giông, bệnh gây thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng lúa gạo. 

Biện pháp phòng trừ: Khi dùng các loại thuốc hóa học để phun trừ bệnh bạc lá thường mang lại hiệu quả thấp. Do đó phải thường xuyên theo dõi diễn biến của bệnh trên đồng ruộng để có biện pháp đối phó kịp thời và hiệu quả. 

Khi phát hiện bệnh cần dừng ngay bón thúc đạm (bón đón đòng), có thể phun nước vôi loãng 2 - 3 lần tuỳ thuộc mức độ của bệnh trên đồng ruộng với liều lượng và cách pha chế như trên. 

Biện pháp này làm chậm quá trình phát triển của bệnh, hạn chế ảnh hưởng tới năng suất lúa. Nếu gieo cấy các giống lúa nhiễm bệnh cần dùng nước vôi phun phòng khi lúa bước vào giai đoạn đứng cái.

Phạm Văn Phú/ nongnghiep.vn

Wednesday, April 8, 2015

Cải tạo ao nuôi cá vược

Xã Diễn Vạn, huyện Diễn Châu (Nghệ An) có tổng diện tích nuôi thủy sản vùng mặn lợ là 37 ha, trong đó 9 ha nuôi cá vược. Hiện tại người dân đang chuẩn bị ao để bước vào vụ nuôi mới.  

Cải tạo ao trước khi nuôi

Đây là khâu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế. Cá vược là loài ăn tạp nên lượng thức ăn thải ra rất nhiều, sau mỗi vụ nuôi do lượng thức ăn dư thừa, chất thải của cá bị tích tụ ở đáy ao sẽ tạo thành một lớp mùn bã hữu cơ, là tác nhân gây bệnh và sản sinh ra một số khí độc làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cá. 

Mục đích chính của chuẩn bị ao là tạo ra một nền đáy sạch, để dễ dàng điều khiển các yếu tố môi trường trong suốt vụ nuôi, cá ít bị dịch bệnh, đạt năng suất cao. Chuẩn bị ao gồm các bước sau: 

1. Cải tạo đáy 

Đối với vùng đất không bị nhiễm phèn, tháo cạn nước, tiến hành nạo vét lớp bùn đen tích tụ ở đáy ao. 

Đối với ao bị nhiễm phèn, tiến hành cải tạ ướt, sục bùn lên bằng cách cho trâu bừa hoặc dùng trang cao, dùng máy bơm áp lực mạnh để rửa trôi chất thải ra khỏi ao. 

2. Bón vôi 

Sau khi đưa lớp bùn đen ra ngoài thì tiến hành bón vôi ở đáy và xung quanh bờ ao để diệt khuẩn, lượng vôi bón 1 - 2 tấn/ha. Vôi có nhiều loại, khi cải tạo thì nên dùng vôi bột CaO vì loại vôi này có tác dụng diệt khuẩn cao, còn trong quá trình nuôi nên dùng vôi Dolomite có khả năng làm tăng hệ đệm của nước, tránh gây sốc cho cá. 

Sau khi bón vôi xung quanh bờ ao và đáy ao, phơi đáy ao nứt chân chim từ 10 - 15 ngày để diệt khuẩn. 

Lưu ý: 

Đối với ao bị nhiễm phèn không phơi đáy ao để tránh hiện tượng xì phèn. 

Kiểm tra bờ ao, gia cố bờ tránh hiện tượng bị rò rỉ, cống cấp, cống thoát trước khi thả cá giống. 

3. Lấy nước và diệt tạp 

Lấy nước qua lưới mịn với mực nước 1 - 1,2 m, độ mặn thích hợp cho cá phát triển 10 - 20‰

Diệt tạp bằng Saponin với lượng 10 - 15 kg/1.000 m3, với mục đích diệt các loại địch hại như cá tạp, cua, còng… đảm bảo cá nuôi đạt tỷ lệ sống cao. Sau khi lấy đủ mực nước trong ao, gây màu nước sau 3 - 5 ngày để ổn định môi trường nước thì tiến hành thả cá giống.

Cao Thị Hà/ nongnghiep.vn


Sử dụng men vi sinh trong nuôi thủy sản: Lợi ích và những lưu ý khi sử dụng

Sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản là hướng đi có ý nghĩa thực tiễn nhằm bảo vệ môi trường và đảm bảo hiệu quả sản xuất. Từ đó, góp phần đưa nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững.

Bón men vi sinh cho ao nuôi tôm

Hai thành phần chính của men vi sinh là vi khuẩn có lợi và các chất dinh dưỡng để nuôi vi khuẩn. Vi khuẩn có lợi được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau. Chúng gồm các loài như Bacillus sp., Nitrosomonas, Nitrobacter... Chất dinh dưỡng là các loại như đường, muối canxi, muối magiê…

Về hình thức, men vi sinh có 02 dạng, dạng nước và dạng bột (hay dạng viên). Bình thường, dạng bột có mật độ vi khuẩn có lợi cao hơn so với dạng nước. Về chủng loại, men vi sinh có 02 loại, loại dùng để xử lý môi trường (loài vi khuẩn chính là  Bacillus sp. ) và loại trộn vào thức ăn (loài vi khuẩn chính là Lactobacillus). 

Các lợi ích mang lại khi sử dụng men vi sinh:

(1) Làm ổn định chất lượng nước và nền đáy trong ao nuôi tôm, cá.

(2) Nâng cao sức khoẻ và sức đề kháng của tôm, cá.

(3) Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi và xung quanh do nuôi thuỷ sản gây nên.

(4) Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.

Các lợi ích đạt được như trên là do hoạt động tích cực của vi khuẩn qua một hay nhiều cơ chế tác động:

(1) Cạnh tranh mạnh mẽ chất dinh dưỡng, năng lượng và giá thể với các loài vi khuẩn có hại khác và tảo độc.

(2) Chuyển hoá các chất hữu cơ như thức ăn dư, xác tảo, cặn bã thành CO2 và nước; chuyển các khí độc như NH3, NO2 thành các chất không độc như NH4+, NO3-.

(3) Hạn chế vi khuẩn có hại trong đường ruột và giúp chuyển hoá hiệu quả thức ăn.

(4) Tiết ra một số chất kháng sinh, enzyme để kìm hãm hay tiêu diệt mầm bệnh.

Màu nước ao có sử dụng men vi sinh

Để men vi sinh phát huy hiệu quả cao, người nuôi thủy sản phải tuân thủ một số nguyên tắc dùng sau đây:

- Hoà loãng men vi sinh bằng nước trong ao nuôi, cho vào xô, thau, sau đó sục khí 4 - 5 giờ đến khi men có mùi chua hay pH giảm thì đem bón.

- Định kỳ dùng trong quá trình nuôi. Thông thường 7 - 10 ngày/lần đối với loại xử lý môi trường và luân phiên sử dụng 5 ngày, sau đó ngưng 5 ngày đối với loại trộn vào thức ăn. Sử dụng cùng lúc với bón phân gây màu nước hay sau khi nước đã lên màu.

- Liều lượng dùng phải theo đúng theo đề nghị của nhà sản xuất.

- Khi môi trường ao nuôi có dấu hiệu hay đang suy giảm chất lượng như hàm lượng khí độc cao (NH3, H2S, NO2…), nước nhiều cặn bã, nước phát sáng thì men vi sinh được sử dụng sớm hơn so với thường ngày với liều lượng tăng gấp 2 lần so với đề nghị.

- Không được sử dụng men vi sinh cùng với các loại hoá chất có tính diệt khuẩn như BKC, thuốc tím, Chlorine, i-ốt, kháng sinh. Đồng thời, không được sử dụng men vi sinh khi các chất trên đang hiện diện trong môi trường nước hay trong thân tôm, cá nuôi.

- Trước khi bón men vi sinh cần cải thiện môi trường ao nuôi bằng các biện pháp như thay nước, bón vôi nâng pH lên 7,5 - 8,5, bón vôi + Dolomite + Khoáng nâng cao độ kiềm.

Men vi sinh sẽ có hiệu quả sau khi sử dụng 2 - 4 ngày, thể hiện qua màu nước và các chỉ tiêu môi trường.

Kết quả thực hiện tại Trung tâm Tập huấn và Chuyển giao công nghệ Nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Nuôi tôm thẻ chân trắng bằng quy trình vi sinh, sau 2 đợt nuôi cho kết quả như sau:

Tác dụng đối với môi trường ao:

- Ổn định pH (dao động từ 8,0 – 8,3 trong suốt quá trình nuôi),

- Màu nước: tháng thứ nhất độ trong từ 25 - 35cm, sau tháng thứ 2 trở đi thì nước đục.

- Bùn đáy ao, lượng phân tôm, thức ăn thừa và các chất hữu cơ khác giảm 50% so với ao không sử dụng vi sinh định kỳ.

- Giảm Nitrite, Nitrate, giảm mùi hôi của các khí độc, kiểm soát hiệu quả sự kết váng trên bề mặt và bùn đáy ao, tạo môi trường ổn định. Hàm lượng khí độc NH3 < 0,01mg/lít, NH4+ <0,2 mg/lít

Hiệu quả:

- Tôm phát triển nhanh, năng suất tôm lên đến 20 tấn/ha.

- Kích cỡ tôm sau 75 ngày nuôi đạt: 65 con/kg (15,4 gram/con).

Tóm tắt quá trình sử dụng vi sinh:

- Trước khi thả giống 2 - 3 ngày: sử dụng vi sinh với liều dùng gấp đôi so với hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Tháng thứ nhất: định kỳ 5 ngày đánh 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.

- Tháng thứ hai: định kỳ 4 ngày đánh 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.

- Tháng thứ ba trở đi: định kỳ đánh 3 ngày 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.
Nguyễn Huy Thạch/ Trung tâm Tập huấn và Chuyển giao công nghệ Nông nghiệp vùng ĐBSCL

Cần phòng bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá điêu hồng nuôi bè

Những năm gần đây, mô hình nuôi cá điêu hồng lồng bè phát triển mạnh, mức độ thâm canh cao hơn, tuy nhiên, chất lượng cá giống giảm cùng với môi trường nước xấu, khiến cho dịch bệnh trên cá điêu hồng nuôi bè xảy ra trầm trọng và giá trị thiệt hại tăng. Bệnh phổ biến nhất trên cá điêu hồng là phù mắt, xuất huyết do vi khuẩn Streptococcus gây ra.

Người nuôi cần thường xuyên theo dõi bè nuôi cá điêu hồng để có hướng giải quyết kịp thời.

Không phải mới đây mà từ năm 2004, một số hộ nuôi cá điêu hồng trên bè tại tỉnh An Giang đã xuất hiện bệnh phù mắt, xuất huyết với mức độ thiệt hại nhỏ. Thời gian gần đây, bệnh này đã trở nên phổ biến và gây chết cá hàng loạt trên cá điêu hồng nuôi bè tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như: Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long.

Các chuyên gia ngành Nông nghiệp nhận định, nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá điêu hồng nuôi bè là do người dân thả nuôi với mật độ quá cao (trên 200 con/m2), môi trường nước ngày càng xấu cộng với thức ăn kém chất lượng. Theo ghi nhận của Chi cục Thủy sản tỉnh Tiền Giang, cá điêu hồng nuôi bè bị bệnh nhiều và tỷ lệ cá chết cao vào thời điểm giao mùa giữa mùa nắng với mùa mưa và trong thời gian nước sông có nhiều phù sa (hay còn gọi là mùa nước son).

Theo các kiểm nghiệm viên phòng bệnh cá (Chi cục Thủy sản tỉnh), người nuôi cá điêu hồng có thể phát hiện cá bị bệnh phù mắt, xuất huyết thông qua một số biểu hiện bên ngoài như cơ thể cá sậm màu, mắt bị lồi đục, các vây và xương nắp mang bị xuất huyết. Bên cạnh đó, các cơ quan như não, thận và tỳ tạng của cá bệnh bị tổn thương nên cá vận động khó khăn, bơi không định hướng và gây chết cá. Cá bệnh có 2 trường hợp, cá bệnh cấp tính có thể chết rất nhanh và tỷ lệ chết cao, trong khi đó cá bệnh mãn tính bị xuất huyết trên thân nhưng nội tạng không bị tổn thương và cá vẫn sống bình thường.

Theo tài liệu khoa học, bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá điêu hồng do nhóm vi khuẩn thuộc giống Streptococcus gây ra. Nhóm vi khuẩn này có kích thước khá nhỏ với dạng ngoài hình cầu hoặc ovan, bắt màu gram dương. Khi xâm nhập vào cơ thể cá, loại vi khuẩn này có khả năng gây tổn thương não cá, sau đó chúng theo máu đến thận, tỳ tạng và làm tổn thương các cơ quan này. Khi quan sát tiêu bản tươi mô gan, thận, tỳ tạng của cá bệnh dưới kính hiển vi điện tử sẽ thấy các vi khuẩn này nằm bên cạnh các tế bào biến dạng, cấu trúc rời rạc, đồng thời các mô thận và tỳ tạng cá bệnh có dấu hiệu xung huyết, xuất huyết và hoại tử.

Trên thực tế, để chẩn đoán cơ bản bệnh bệnh phù mắt, xuất huyết trên cá điêu hồng, người nuôi có thể kết hợp quan sát dấu hiệu bệnh lý bên ngoài với giải phẫu quan sát dấu hiệu bệnh lý của các cơ quan nội tạng. Do Streptococcus là loại vi khuẩn thuộc nhóm gram dương nên việc phòng trị bệnh thường khó khăn, hiệu quả thấp. Do đó, phòng bệnh là công việc quan trọng nhất để mang lại hiệu quả nuôi tốt nhất cho người nuôi cá điêu hồng trên bè.

Để làm tốt công tác phòng bệnh, trước hết cần làm tốt khâu chuẩn bị bè trước khi thả nuôi, chọn con giống chất lượng, được kiểm dịch trước khi thả nuôi, thả nuôi với mật độ khoảng 100 - 150 con/m2, kiểm soát tốt môi trường nước trong suốt quá trình nuôi và nhất là cần duy trì hàm lượng ôxy hòa tan trong bè nuôi hợp lý (5 - 7 mg/lít). Trong trường hợp phát hiện cá bệnh chết cần lập tức vớt khỏi bè, xử lý bằng cách đem chôn trong hố có rải vôi.

Người nuôi cá điêu hồng trên bè cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện bệnh sớm, để có biện pháp chẩn đoán và điều trị kịp thời. Sau khi xác định được tác nhân gây bệnh trên cá là do vi khuẩn Streptococcus, bà con nuôi cá phải dùng các loại kháng sinh có tác dụng với vi khuẩn gram dương để điều trị. Tuy nhiên, để việc điều trị cá bệnh đạt hiệu quả cao, việc chọn lựa loại thuốc kháng sinh và liều lượng sử dụng cần có sự tư vấn của cán bộ chuyên môn thông qua kết quả làm kháng sinh đồ tại các phòng kiểm nghiệm bệnh thủy sản.

Thành Công/ tiengiang.gov.vn

Saturday, April 4, 2015

Khắc phục hiện tượng ngộ độc phèn cho cây lúa trong vụ hè thu (Video)

Bước vào vụ hè thu hàng năm, hiện tượng cây lúa bị ngộ độc phèn xảy ra phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành phố trong cả nước, đặc biệt là ở ĐBSCL. Nguyên nhân là do lượng mưa ít, phân bố không đều vào đầu vụ hè thu, lại không chủ động được nguồn nước tưới bổ sung làm cho các tầng đất chứa vật liệu sinh phèn dễ bị oxy hóa dẫn đến hiện tượng xì phèn...


Xem video chương trình được thực hiện bởi VTV Cần Thơ:




Chọn giống tôm thẻ chân trắng chất lượng

Kiểm tra sinh học ban đầu với tôm giống là cần thiết, đảm bảo tôm không mang mầm bệnh virus hoặc vi khuẩn. Đánh giá cảm quan bao gồm quan sát hoạt động, hệ gan tụy, mang và ruột…

Dụng cụ kiểm tra

- Vợt đường kính 15 mm làm bằng lưới phù du No38.

- Vợt đường kính 30 mm làm bằng lưới phù du No38.

- Chậu màu sáng có dung tích 5 - 8 lít.

- Cốc thủy tinh có dung tích 300 - 500 ml.

- Thước đo hoặc giấy kẻ ô ly 1 mm.

- Đèn pin dung tích pin 3,0 - 4,5V.

- Kính lúp có độ phóng đại 20 lần.

Lấy mẫu kiểm tra

Dùng vợt lấy mẫu theo chiều thẳng đứng từ dưới lên ở 4 góc bể ương, thả vào chậu chứa sẵn nước của bể ương để kiểm tra. Số lượng mẫu tôm giống dùng làm mẫu không ít hơn 200 cá thể.

Kiểm tra tôm trong phòng thí nghiệm - Ảnh: Trần Út

Cách tiến hành

Kiểm tra trạng thái hoạt động của tôm giống

Quan sát trực tiếp hoạt động bơi và bám của tôm giống trong chậu. Dùng tay khuấy tròn nước trong chậu và quan sát hoạt động bơi của tôm. Tôm khỏe sẽ bơi ngược dòng, đuôi xòe hoặc bám vào thành và đáy chậu. Tôm yếu trôi theo dòng nước chảy hoặc tập trung giữa chậu.

Thử trực tiếp với ánh sáng: Đặt chậu tôm giống vào chỗ tối, dùng đèn pin chiếu đột ngột và trực tiếp vào chậu để quan sát phản ứng của tôm. Tôm khỏe sẽ có phản ứng nhanh khi có tác động đột ngột của ánh sáng.

Kiểm tra ngoại hình, màu sắc

Dùng vợt vớt 30 - 40 cá thể từ chậu cho vào cốc thủy tinh có chứa sẵn nước. Đặt hoặc nâng tôm ngang tầm mắt và hướng ra phía có nguồn ánh sáng để quan sát màu sắc tôm. Số lần quan sát không dưới 3 lần. Số tôm giống quan sát xong thả vào một chậu chứa khác.

Vớt ngẫu nhiên 30 - 40 cá thể trước đó đã quan sát bằng mắt thường, dùng kính lúp quan sát lại chỉ tiêu ngoại hình, phần phụ của tôm giống.

Kiểm tra chiều dài

Đặt tôm giống nằm duỗi thẳng trên thước đo hoặc giấy kẻ ô ly, sau đó đọc chiều dài từ mũi chủy đến chóp đuôi tôm. Lần lượt đo chiều dài ít nhất 50 cá thể. Thống kê toàn bộ chiều dài số cá thể của mẫu và xác định tỷ lệ % số tôm giống khác quy cỡ.

Kiểm tra khả năng bắt mồi

Kiểm tra tôm trong bể ương; tôm khỏe bắt mồi đều đặn, ruột chứa đầy thức ăn, không bị ngắt đoạn.

Kiểm tra tình trạng sức khỏe

Kiểm tra tình trạng sức khỏe của tôm bằng 1 trong 2 cách:

+ Gây sốc bằng Formalin 100 ppm: Thả 40 - 50 cá thể tôm giống cần kiểm tra vào dung dịch Formalin 100 ppm và theo dõi trong 30 giây. Nếu tỷ lệ tôm sống 100% là tôm đạt yêu cầu.

+ Gây sốc bằng cách hạ độ mặn đột ngột xuống 0‰: Thả 40 - 50 cá thể tôm giống cần kiểm tra vào cốc thủy tinh chứa 300 ml nước trong bể ương. Cho nước ngọt vào và hạ độ mặn xuống còn 0‰. Theo dõi hoạt động của tôm trong 30 giây, sau đó đưa tôm trở lại độ mặn 30‰. Nếu tỷ lệ sống của tôm 100% là đạt yêu cầu.

Kiểm tra vi khuẩn, virus gây bệnh

Công tác và thiết bị kiểm tra mẫu bệnh của tôm giống cần được đầu tư và thường được tiến hành ở các phòng thí nghiệm bằng phương pháp PCR hoặc phương pháp mô bệnh học.

Về quan sát hình thái và biểu hiện của tôm, người nuôi cần chú ý một số đặc điểm biểu hiện đặc trưng từng loại bệnh.

VD1: Tôm bị nhiễm bệnh đầu vàng (YHV) thường có biểu hiện bơi lờ đờ, hôn mê và bơi lên tầng mặt nước gần bờ ao; quan sát giáp đầu gần ngực có màu vàng nhạt; mang tôm có màu trắng, vàng nhạt hoặc nâu.

VD2: Tôm bị nhiễm bệnh hoại tử gan tụy (NHP) thường có những biểu hiện lâm sàng như: tôm bỏ ăn; đường tiêu hóa rỗng; lớp vỏ mềm; mang bị đen hoặc sẫm màu; gan tụy hoại tử có màu trắng nhợt khác với màu nâu vàng ở tôm bình thường; gan tụy mềm, dễ nát…

VD3: Tôm bị nhiễm bệnh bệnh đốm trắng (WSSV) thường có những biểu hiện lâm sàng như: tôm lờ đờ, dạt vào bờ; xuất hiện các đốm trắng tròn ở dưới lớp vỏ kitin, đặc biệt là vùng đầu ngực và ở đốt bụng cuối cùng; trong trường hợp cấp tính tôm bệnh có thể chuyển sang màu hồng đỏ.

Yêu cầu kỹ thuật


Sau khi thực hiện các bước kiểm tra đánh giá chất lượng tôm giống, người nuôi cần áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật tại bảng 1 để lựa chọn được tôm giống đạt tiêu chuẩn chất lượng.

ThS Đặng Xuân Kỳ (Ban KHKT TSVN)

Friday, April 3, 2015

Chủ động phát hiện và phòng trừ bệnh đạo ôn mãn tính

Hiện nay, bệnh đạo ôn đã phát sinh phá hại trên lúa chiêm xuân và ở thể mãn tính.

Ảnh minh họa

Triệu chứng bệnh theo từng đám, mỗi đám từ 4 - 5 khóm lúa, trên giống BC15 bón thừa đạm và đang giai đoạn cuối đẻ nhánh. Ví dụ, bệnh này đang diễn biến phức tạp tại xứ đồng màu thôn Tống Xá, xã Thanh Quang (Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Vết bệnh này riêng rẽ có hình thoi, viền nâu, tâm màu xám trắng; các vết liên kết với nhau thành hình bất định cũng có viền nâu, bên trong có chỗ đen hoặc xám trắng.

Bệnh do nấm Pyricularia Oryzae gây ra. Điều kiện thời tiết đang rất thuận lợi cho bào tử nấm bệnh phát tán nẩy mầm nên nguy cơ lây lan và làm tăng diện tích bị hại là rất cao.  

Chúng tôi khuyến cáo bà con như sau:

- Bà con nông dân nên thường xuyên thăm đồng để nhận diện được triệu chứng đặc trưng, nhất là bệnh còn đang ở thể cấp tính, có hình chấm nhỏ và có màu xanh trong giọt dầu nằm ngay trên mặt lá. Tại những ruộng đang bị cấp tính hoặc đã mãn tính thì bắt buộc phải tạm dừng việc bón gốc và lá tất cả các loại phân, kể cả chất kích thích sinh trưởng. Duy trì mực nước trong ruộng từ 2 - 3cm

- Căn cứ vào diện tích để mua thuốc phun trừ kịp thời. Nên sử dụng thuốc Filia525SE và Amistar Top325SC để phun luân phiên 4 lần, cách nhau từ 2 - 3 ngày/lần/loại thuốc, ở lượng 15-20 ml thuốc/sào/lần.

KS Nguyễn Hữu Vân/ Báo Hải Dương

Wednesday, April 1, 2015

Phân lân, những điều cần biết

Trên một số loại đất ở nước ta, lân trở thành yếu tố gây hạn chế năng suất cây trồng. Đặc biệt ở các tỉnh phía Nam, thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm.     

Ảnh minh họa
Hiệu suất của phân lân khá cao. Trên một số loại đất ở Tây Nguyên, bón 1 kg cho hiệu quả thu được 4,3 – 7,5 kg cà phê nhân. Ở các vùng đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của phân lân càng cao hơn, 1 kg P mang lại 90 kg thóc, ở mức bón 40 – 60 kg/ha.

Bón quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng. Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là Zn.

Phôtphat nội địa

Là loại bột mịn, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15 - 25%. Loại phân thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%.

Trong phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu đối với cây trồng. Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua.

Vì lân ở dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở các chân đất chua. Ở đất không chua, hiệu lực của loại phân này thấp ; dùng bón cho cây phân xanh có thể phát huy được hiệu lực. Chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc.

Khi sử dụng có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu. Dùng để ủ với phân chuồng rất tốt.

Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng.

Phân apatit

Là loại bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu. Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều.

Thường chia thành 3 loại: loại apatit giàu có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân ; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân.

Loại apatit giàu thường được sử dụng để chế biến thành các loại phân lân khác, còn loại trung bình và loại nghèo mới được đem nghiền thành bột để bón cho cây. Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng cây khó sử dụng.

Tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất, được sử dụng tương tự như phôtphat nội địa. Sử dụng và bảo quản tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất.

Supe lân

Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên.

Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra còn có chứa một lượng lớn thạch cao, một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua.

Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng, thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi. Có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được.

Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân. Có thể dùng để ủ với phân chuồng.

Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng bằng phôtphat nội địa hoặc apatit. Đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%. Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, còn dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%.

Phân supe lân thương phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây. Đặc biệt, có thể dùng supe lân để kích thích cây ra rễ.

Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt.

Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển):

Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh.

Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra trong phân còn có canxi 30%, một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có khi có cả kali.

Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất.

Phân không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng. Có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt.

Tecmô phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm. Sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali. Thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên.

Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng.

Phân lân kết tủa

Phân có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột. Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có một ít canxi.

Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat. Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng.

Nguồn: giatieu/Cục trồng trọt

Lưu ý khi sử dụng phân bón tổng hợp

Để giúp nông dân mua các sản phẩm phân bón tổng hợp (NPK) bảo đảm chất lượng và sử dụng hiệu quả, xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

Ảnh minh họa

Nên mua sản phẩm có thương hiệu, uy tín. Khi mua, cần xem kỹ nhãn mác, bao bì, hạn sử dụng và công dụng của mỗi loại phân bón. 

Khi mua phân bón nông dân cần nhận biết được loại nào sản xuất nhờ công nghệ tạo hạt bằng hơi nước, loại nào sản xuất nhờ công nghệ chảo quay. Cách nhận biết như sau:

+ Công nghệ chảo quay tạo ra viên phân tròn vo, hạt to nhỏ không đều nhau, bề mặt viên phân bị rỗ, không nhẵn bóng. Trong khi phân bón tổng hợp tạo hạt bằng hơi nước thì viên phân tròn nhưng tròn dẹt, các hạt đồng đều nhau về kích thước, bề mặt viên phân nhẵn bóng, bóp không bị vỡ...

+ Các loại phân nhuộm màu thì có thể phân biệt bằng cách: Lấy búa ghè vỡ viên phân, nếu lõi và ngoài viên có màu đồng nhất thì viên phân đó được tạo hạt bằng hơi nước. Nếu lõi viên phân và bên ngoài vỏ viên khác màu nhau thì phân đó được tạo bằng công nghệ chảo quay.

+ Với các loại phân bón kém chất lượng được làm bằng xỉ than và than bùn thì người mua cần nhận biết bằng cách: cầm một viên phân lên và bóp mạnh, nếu phân bị vỡ vụn thì là loại kém chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng rất thấp.

Lưu ý:

 - Khi sử dụng phân bón tổng hợp tưới cho cây trồng nên đổ một lượng nước nhất định sao cho vừa đủ ngập lượng phân cần đem bón. Để phân ngấm nước và tan ra thành một dung dịch nhão (từ 3-5 giờ) rồi mới đem phân đi tưới. Không bỏ từng nắm phân vào thùng nước đầy rồi khoắng. Làm như vậy các viên phân không thể tan hết được do áp lực của nước và không đủ thời gian ngấm.

- Phân tổng hợp chuyên dùng cho rau màu thì có thể bón được cho cây lúa nhưng phân bón tổng hợp cho lúa thì không nên bón cho cây rau màu vì trong phân bón cho lúa lượng kali có trong đó là kali clorua (KCL) tốt cho cây lúa nhưng khi bón cho cây rau màu thì sản phẩm thu được hay bị nứt, vỡ, bộ rễ cây màu thường bị chun lại, kém phát triển do có chứa gốc clo.  

- Nên lựa chọn từng chủng loại phân dùng cho từng thời kỳ phát triển khác nhau của cây trồng đã ghi trên nhãn mác, tránh tình trạng phân thúc đẻ nhánh, ra lá lại dùng cho thời kỳ làm đòng, làm hạt, tạo củ và ngược lại. 

Với các loại phân tổng hợp giàu lân, đạm dễ tiêu như DAP chỉ dùng để bón lót cho lúa hoặc rau màu và phân cần được bón vùi vào trong đất cách xa gốc từ 5-10 cm. Không nên bón sát hạt hoặc gốc cây mới gieo trồng sẽ làm cây chết xót. Không nên dùng DAP để bón thúc cho cây vì sản phẩm rất giàu lân (46% lân dễ tiêu). Liều lượng đối với loại phân này khi sử dụng để lót cho cây trồng nông dân cần chú ý đọc kỹ hướng dẫn ghi trên bao bì. 

KS. Trần Thị Liên (Trạm Khuyến nông Nam Sách)